Nghị quyết số 27-NQ/TW

Mở rộng không gian phát triển từ liên kết vùng

Trong bối cảnh các địa phương trên cả nước đã được sắp xếp lại và chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bài toán phát triển vùng không còn dừng ở việc tăng cường phối hợp giữa những địa giới hành chính riêng biệt mà hướng tới sự kết nối trong tổng thể tổ chức tăng trưởng quốc gia.

Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng hình thành hành lang liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương trong khu vực.
Dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng hình thành hành lang liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển của Hà Nội và các địa phương trong khu vực.

Với mục tiêu này, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị đã yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang phân công theo chức năng, lợi thế và chuỗi giá trị trên cơ sở mở rộng không gian phát triển từ liên kết vùng.

Phân vai để tạo sức mạnh chung

Sau hơn ba năm thực hiện các nghị quyết của Đại hội XIII về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh sáu vùng kinh tế-xã hội, nhận thức về vai trò của phát triển vùng đã được nâng lên, liên kết giữa các địa phương được tăng cường, tiềm năng và lợi thế từng bước được phát huy. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 27-NQ/TW khi Trung ương thẳng thắn chỉ ra, việc phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra, như: quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ, thiếu liên kết; kết cấu hạ tầng vẫn là điểm nghẽn; hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân, lan tỏa...

Dẫn ra hàng loạt các thí dụ thực chứng về vấn đề này, tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, GS, TS Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, cũng nêu rõ, phân hóa thu nhập giữa các vùng, miền vẫn còn lớn, trong khi tác động tích cực của tăng trưởng đối với vấn đề giảm nghèo và cải thiện các chỉ tiêu phát triển con người có xu hướng giảm.

Chia sẻ về những định hướng, cách tiếp cận mới của cấp có thẩm quyền tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, TS Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, nhận định, một trong những tư tưởng xuyên suốt của nghị quyết quan trọng này là xác định phát triển vùng như một phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh. “Cách tiếp cận này đòi hỏi mỗi vùng và mỗi địa phương phải xác định vai trò, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh trong tổng thể phát triển đất nước. Thay vì cùng chạy theo một số ngành, dự án hoặc mô hình đầu tư, các địa phương được đặt trong quan hệ phân công, bổ trợ và liên kết theo chuỗi giá trị toàn vùng như một hệ sinh thái thống nhất. Hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào năng lực điều phối, chia sẻ lợi ích và biến kết nối hạ tầng thành liên kết kinh tế thực chất”, TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.

Còn theo GS, TS Ngô Thắng Lợi, vấn đề cốt lõi là tổ chức được sự phân công hợp lý, để lợi thế của địa phương này trở thành đầu vào hoặc thị trường cho địa phương khác và tạo thành năng lực cạnh tranh chung. Bởi mục tiêu phát triển vùng không phải là yêu cầu mọi địa phương cùng đạt một tốc độ hoặc xây dựng một cơ cấu kinh tế giống nhau. Liên kết vùng cần hướng tới cả hiệu quả kinh tế và khả năng chia sẻ thành quả phát triển, phù hợp yêu cầu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân và phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện.

Biến đầu tư hạ tầng thành năng lực nội sinh

Trong Nghị quyết số 27-NQ/TW, Trung ương ưu tiên phát triển ba hành lang kinh tế lớn gồm: hành lang bắc-nam trên cơ sở trục giao thông bắc - nam phía đông; hành lang Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh; hành lang Mộc Bài-Thành phố Hồ Chí Minh-Biên Hòa-Vũng Tàu. Cùng với đó là các hành lang Đông-Tây kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng lưới logistics khu vực.

Đặc biệt, trục giao thông bắc- nam được định hướng tích hợp đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics, gắn với các đô thị, trung tâm công nghiệp, dịch vụ mới. Các tuyến đường sắt kết nối cảng biển lớn, cửa khẩu quốc tế, đường sắt đô thị, đường sắt vùng và đường sắt tốc độ cao bắc-nam được xác định là những cấu phần quan trọng. Giao thông đường thủy được định hướng trở thành phương thức vận tải chủ yếu tại một số vùng nhằm tối ưu hóa chuỗi logistics và giảm chi phí vận tải.

Thực tế minh chứng, một hành lang giao thông chỉ trở thành hành lang kinh tế khi dòng hàng hóa, vốn, lao động, công nghệ và dữ liệu được lưu chuyển thông suốt, đồng thời hình thành được các chuỗi sản xuất, dịch vụ và đô thị gắn kết. Đây cũng là lý do mà TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, lưu ý các vấn đề phát triển hiện nay đều mang tính liên ngành, liên vùng. Song, nếu mỗi bộ, ngành hay địa phương chỉ hoàn thành phần việc của mình và thiếu cơ chế phối hợp, cũng như thiếu một đầu mối chịu trách nhiệm, bài toán liên kết chung vẫn không thể được giải quyết.

Về vấn đề này, TS Huỳnh Thanh Điền cho rằng, liên kết vùng phải bắt đầu từ tư duy hoạch định chính sách và phương thức giao mục tiêu của Trung ương. Nếu mục tiêu và nguồn lực vẫn được giao riêng lẻ theo từng tỉnh, thành phố, các địa phương khó thoát khỏi tư duy cục bộ và cạnh tranh lẫn nhau. Do vậy, đối với mỗi dự án liên vùng cần xác lập một cơ quan hoặc địa phương làm đầu mối, chịu trách nhiệm xuyên suốt từ chuẩn bị, huy động vốn, triển khai đến vận hành. Nguyên tắc các địa phương “cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi” phải được cụ thể hóa ngay trong phương án tài chính, bao gồm mức đóng góp, phân chia nguồn thu, chi phí vận hành, giá trị tăng thêm từ đất đai và trách nhiệm xử lý rủi ro.

Theo TS Huỳnh Thanh Điền, đây là vấn đề quyết định khả năng chuyển từ liên kết mang tính thỏa thuận sang liên kết có trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích rõ ràng. Và cũng là cơ sở để bảo đảm các vùng động lực và hành lang kinh tế thật sự tạo ra một không gian phát triển thống nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư trong từng địa giới.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phát biểu trong phiên thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế-xã hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Phạm Thắng

Tăng trưởng kinh tế cần thật sự lan tỏa đến đời sống Nhân dân

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, không chỉ là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, mà những vấn đề rất cụ thể như: bàn cách tháo gỡ điểm nghẽn từ cơ sở, khơi thông nguồn lực hay xác định rõ trách nhiệm thực thi cũng đã được đặt lên bàn nghị sự. Bởi theo các đại biểu, đích đến của mọi quyết sách đều phải và cần được đo bằng chuyển biến thực chất trong sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.

Khi Nhà nước mở rộng không gian phát triển bằng các thể chế vượt trội, thì chính lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ là người trực tiếp chuyển hóa các cơ hội đó thành giá trị mới cho xã hội. Ảnh: Hương Nguyên

Giao điểm của kiến tạo phát triển thực chất

Không gian chính sách dành cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp đã rộng mở hơn trước. Song, điều doanh nghiệp cần còn là việc những chính sách đó thật sự ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, để họ có thể yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn trong một môi trường kinh doanh có thể dự báo được.

TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần.

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.