Sửa Luật Thuế Giá trị gia tăng: Gỡ điểm nghẽn từ thực tiễn

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 không chỉ nhằm giải quyết những bất cập phát sinh trong quá trình chuẩn bị triển khai, mà còn là giải pháp quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất sau thiên tai và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng là bước đi mang tính chiến lược, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp. (Ảnh: MINH PHƯƠNG)
Việc bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng là bước đi mang tính chiến lược, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp. (Ảnh: MINH PHƯƠNG)

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước nhất quán chủ trương xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, công bằng, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai các chính sách mới luôn có độ trễ nhất định, đòi hỏi cơ quan quản lý phải kịp thời lắng nghe phản ánh từ cơ sở và chủ động điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế. Luật Thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, là văn bản quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách thuế, song trong quá trình chuẩn bị thi hành, nhiều bất cập đã bộc lộ rõ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất khẩu thức ăn chăn nuôi và điều kiện hoàn thuế.

Những bất cập lớn từ thực tiễn sản xuất và xuất khẩu nông sản

Theo quy định của Luật số 48/2024/QH15, doanh nghiệp phải nộp 5% thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với nông sản mua bán qua khâu thương mại, sau đó được hoàn thuế khi xuất khẩu. Số thuế giá trị gia tăng thu rồi lại hoàn thuế cho những mặt hàng mà phần lớn sản lượng sản xuất ra được dành để xuất khẩu (như cá da trơn, hồ tiêu, cà phê,…) dẫn đến lãng phí thời gian và đọng vốn của doanh nghiệp trong khi các tổ chức tín dụng không giải ngân phần thuế này khi cấp vốn lưu động, gây áp lực tài chính và giảm hiệu quả kinh doanh. Nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đang chịu tác động nặng nề của thiên tai, đặc biệt là mưa bão, lũ lụt tại nhiều vùng sản xuất lớn, việc phải xoay vòng hàng nghìn tỷ đồng thuế giá trị gia tăng để chờ hoàn khiến doanh nghiệp không thể chủ động nguồn vốn cho thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Các hiệp hội ngành hàng đã phản ánh rõ tình trạng này. Theo số liệu ước tính của một số ngành trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ trong 6 tháng cuối năm 2025, số thuế giá trị gia tăng 5% mà doanh nghiệp ngành cà phê phải tạm nộp ước khoảng 5.000 tỷ đồng; ngành lương thực khoảng 2.016 tỷ đồng; ngành hồ tiêu và cây gia vị khoảng 2.162 tỷ đồng. Đây đều là những ngành hàng xuất khẩu chủ lực, lượng hàng tồn kho lớn, yêu cầu vốn quay vòng nhanh.

Bên cạnh đó, quy định hiện hành cũng tạo ra sự bất bình đẳng giữa hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu. Nông sản, thủy sản nhập khẩu không chịu thuế giá trị gia tăng khi vào Việt Nam, trong khi hàng nội địa lại phải chịu thuế ở khâu thương mại. Điều này làm tăng chi phí của doanh nghiệp trong nước, tạo lợi thế cho hàng nhập khẩu và gây tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp trong nước vốn đang chịu nhiều ảnh hưởng từ thiên tai.

Một bất cập không kém phần nghiêm trọng là chính sách thuế áp dụng với thức ăn chăn nuôi. Do thức ăn chăn nuôi thuộc đối tượng không chịu thuế nên không được khấu trừ, không được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, dẫn đến doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi bị tăng chi phí, tăng giá bán, qua đó sẽ ảnh hưởng đến người chăn nuôi. Bên cạnh đó, quy định này chưa bảo đảm công bằng và có thể làm giảm khả năng cạnh tranh với sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu do thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không chịu thuế giá trị gia tăng điều này gây bất lợi không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước.

Một vướng mắc lớn khác mà doanh nghiệp phản ánh là điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng yêu cầu người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai, nộp thuế. Trong thực tiễn, các doanh nghiệp khi xuất khẩu được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, nhưng lại bị chậm do phải chờ xác định người bán hàng cho mình đã kê khai, nộp thuế, gây khó khăn và rủi ro cho doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế. Bởi vì doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế không có công cụ pháp lý hay kỹ thuật để kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế của người bán tại thời điểm lập hồ sơ hoàn thuế. Quy định này cũng đã có một số tổ chức, cá nhân phản ánh là chưa phù hợp với nghĩa vụ chịu trách nhiệm của từng chủ thể, do người mua và người bán là các chủ thể khác nhau và phải chịu trách nhiệm riêng rẽ, độc lập với nhau.

Việc xử lý các hồ sơ hoàn thuế bị chậm kéo theo nhiều hệ lụy: dòng tiền bị đọng lại, kế hoạch kinh doanh bị gián đoạn và doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu. Trong bối cảnh xuất khẩu nông sản đang cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước để duy trì tăng trưởng và mở rộng thị trường, việc tiếp tục duy trì quy định này có thể khiến nhiều doanh nghiệp mất cơ hội cạnh tranh.

Sửa luật theo thủ tục rút gọn với 3 nhóm sửa đổi trọng tâm.

Trước những vướng mắc nêu trên, trên cơ sở lắng nghe, nghiêm túc nghiên cứu kỹ lưỡng phản ánh, kiến nghị của các Hiệp hội, doanh nghiệp và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng với tác động nghiêm trọng của mưa bão, lũ lụt đối với sản xuất nông nghiệp ở nhiều khu vực, Bộ Tài chính nhận định cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 để góp phần khắc phục hậu quả, bảo đảm hoạt động sản xuất-kinh doanh được duy trì ổn định.

Khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép trình luật tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra nếu vấn đề phát sinh từ thực tiễn có tính cấp bách. Việc áp dụng thủ tục rút gọn trong trường hợp này thể hiện sự linh hoạt, kịp thời của Chính phủ trong xử lý các vấn đề chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội.

Ngày 26/11/2025, Bộ trưởng Bộ Tài chính, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, đã ký Tờ trình số 1090/TTr-CP gửi Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị xem xét, thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng. Việc sửa luật được xác định nhằm bảo đảm mục tiêu kép: tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm sự tương thích, thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành.

Dự thảo Luật lần này tập trung vào 3 nội dung cốt lõi. Thứ nhất, đưa lại quy định không phải kê khai, tính nộp thuế nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường mua bán qua khâu thương mại.

Với quy định này doanh nghiệp không phải trả thuế giá trị gia tăng 5% đầu vào đối với hàng hóa là các sản phẩm nông nghiệp mua bán ở khâu thương mại, khắc phục tình trạng số thuế giá trị gia tăng thu rồi lại hoàn thuế cho những mặt hàng mà phần lớn sản lượng sản xuất ra được dành để xuất khẩu như cá da trơn, hồ tiêu, cà phê,… vốn là vốn đang là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, giúp giảm áp lực tài chính và tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.

Thứ hai, điều chỉnh chính sách thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi để thực hiện theo quy định của pháp luật về thức ăn chăn nuôi. Với việc sửa đổi quy định này cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi không phải trả thuế giá trị gia tăng 5% nêu trên, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí sản xuất từ đó tăng khả năng cạnh tranh với sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu

Thứ ba, bỏ điều kiện yêu cầu người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai, nộp thuế. Việc loại bỏ quy định này sẽ góp phần rút ngắn thời gian hoàn thuế, việc hoàn thuế đối với cơ sở xuất khẩu được thực hiện theo quy định mà không phải chờ, xác định được là người bán đã kê khai, nộp thuế

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng là bước đi mang tính chiến lược, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm công bằng giữa hàng hóa trong nước và nhập khẩu, đồng thời tạo điều kiện để sản xuất nông nghiệp phục hồi sau thiên tai. Việc sửa đổi lần này cũng thể hiện tinh thần chủ động của cơ quan quản lý trong nắm bắt thực tiễn, kịp thời điều chỉnh chính sách để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn nhiều biến động.

Có thể bạn quan tâm

Phế liệu xây dựng từ các ngôi nhà phá dỡ để giải tỏa cho các dự án giao thông đang khiến cho lượng rác thải trở thành quá tải tại các bãi rác Hà Nội. (Ảnh: Trịnh Xuân Giang)

Áp lực ô nhiễm từ phế thải xây dựng và vấn đề tái sinh tài nguyên tại Hà Nội

Quá trình đô thị hóa nhanh tại Hà Nội đang kéo theo lượng lớn phế thải xây dựng phát sinh, gây áp lực nặng nề lên môi trường và hạ tầng xử lý. Trước thực trạng đổ trộm, quá tải bãi thải, việc chuyển đổi từ “thải bỏ” sang “tái chế” theo mô hình kinh tế tuần hoàn là yêu cầu tất yếu nhằm hướng tới phát triển đô thị bền vững.

Tang vật thực phẩm đông lạnh không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp do lực lượng chức năng thu giữ.

Hải quan liên tiếp phát hiện gần 1 tấn thực phẩm nhập lậu, không rõ nguồn gốc tại biên giới phía bắc

Trong nửa đầu tháng 6/2026, lực lượng hải quan tại các tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai, Cao Bằng đã liên tiếp phát hiện, bắt giữ gần 1 tấn thực phẩm đông lạnh, không rõ nguồn gốc, không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Nhiều lô hàng đã có dấu hiệu rã đông, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm và ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Quá trình phân phối E10 đã được các doanh nghiệp đầu mối triển khai thí điểm trước khi áp dụng trên phạm vi toàn quốc. (Ảnh: HOÀNG ANH)

Xăng E10 và bài toán xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học quốc gia

Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, nhiên liệu sinh học đang được nhìn nhận là một giải pháp kỹ thuật thay thế nhiên liệu hóa thạch và là một mắt xích quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và thúc đẩy tăng trưởng xanh.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 18/6: VN-Index tăng hơn 24 điểm bất chấp khối ngoại xả mạnh cổ phiếu trụ

Phiên giao dịch ngày 18/6, sắc xanh chiếm ưu thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam. VN-Index tăng 24,27 điểm (+1,34%), lên mức 1.830,47 điểm khi chốt phiên. Động lực chính đến từ nhóm bất động sản, đặc biệt là VIC, VHM và VRE đồng loạt tăng trần, bất chấp áp lực điều chỉnh từ nhóm ngân hàng, chứng khoán và thép.

Các đại biểu tham dự lễ mít-tinh.

Lan tỏa quyết tâm phòng, chống ma túy từ tuyến biên giới Cao Bằng

Sáng 18/6, tại tỉnh Cao Bằng, Chi cục Điều tra chống buôn lậu (Cục Hải quan) chủ trì, phối hợp Chi cục Hải quan khu vực XVI và Ủy ban nhân dân xã Phục Hòa tổ chức Lễ mít-tinh, diễu hành tuyên truyền phòng, chống ma túy hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026 và Ngày toàn dân phòng, chống ma túy.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 18/6: Vàng thế giới bật tăng hơn 60 USD/ounce nhờ xung đột Trung Đông hạ nhiệt

Giá vàng thế giới hôm nay (18/6) tăng mạnh, giao dịch ở mức 4.371,2 USD/ounce, trong bối cảnh giá dầu giảm sâu sau khi Mỹ và Iran ký bản ghi nhớ (MoU) nhằm chấm dứt xung đột tại Trung Đông. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC đồng loạt đi ngang, niêm yết lần lượt ở mức 151,3 triệu đồng/lượng và 151,2 triệu đồng/lượng.

Hộ kinh doanh mới chuyển đổi lên doanh nghiệp sẽ được đơn giản thủ tục thuế, kế toán. Trong ảnh: Cán bộ Thuế cơ sở 5 tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai thuế trên ứng dụng eTax Mobile. (Ảnh: PHAN TÂM)

Mở cơ chế vay vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mặc dù chiếm 98% về số lượng nhưng vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chỉ chiếm khoảng 19-20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Bộ Tài chính đề xuất nhiều giải pháp mới trong dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này phát triển nhanh, bền vững.

Vườn vải trứng thâm canh theo hướng VietGAP của gia đình ông Lê Ngọc Thương ở xã Đoàn Đào (Hưng Yên) mang lại hiệu quả kinh tế cao. (Ảnh: NGUYÊN PHÚC)

Hiệu quả của mô hình khuyến nông

Từ chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất, liên kết tiêu thụ theo chuỗi giá trị đến cầm tay chỉ việc cho nông dân, nhiều mô hình khuyến nông đã và đang phát huy hiệu quả kinh tế rõ rệt. Những mô hình trình diễn trực quan đã giúp lan tỏa phương pháp sản xuất tiên tiến, mang lại thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân.

Đến giữa tháng 6/2026, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã ghi nhận 18.500 sản phẩm của 26 tỉnh, thành phố tham gia.

Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản

Đến giữa tháng 6/2026, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã ghi nhận 18.500 sản phẩm của 26 tỉnh, thành phố tham gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định truy xuất nguồn gốc là công cụ minh bạch hóa chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, không phải cơ chế tạo “luồng xanh” cho xuất khẩu.