Số hóa mới chỉ là bước đầu

Thách thức cốt lõi của xã hội số hiện nay có lẽ không nằm ở tốc độ công nghệ, mà ở khả năng duy trì và tái thiết niềm tin xã hội. Và trong tiến trình đó, “tính người” không phải là yếu tố bổ trợ, mà chính là biến số trung tâm quyết định chất lượng quản trị.

Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.
Chiến dịch Không 1 mình do Liên minh Niềm tin số khởi xướng với mục tiêu nâng cao nhận thức, kỹ năng an toàn số của trẻ em, thanh thiếu niên trên không gian mạng.

Chỉ dấu quản trị xã hội hiệu quả

Trong quản trị xã hội, niềm tin được xem là tài sản vô hình của hệ thống chính trị-hành chính. Bối cảnh số hóa, niềm tin không chỉ hướng tới con người hay thể chế, mà còn mở rộng sang các hệ thống kỹ thuật trung gian. Người dân không tiếp xúc trực tiếp với cơ quan công quyền, mà tương tác qua cổng dịch vụ công, cơ sở dữ liệu, thuật toán xử lý hồ sơ. Trải nghiệm số vì thế đã trở thành trải nghiệm chính trị - xã hội.

Nhiều nghiên cứu về niềm tin số (digital trust) chỉ ra rằng, niềm tin số hình thành từ ba yếu tố cốt lõi: Minh bạch, khả năng kiểm soát và cảm nhận công bằng. Một hệ thống dù vận hành hiệu quả về mặt kỹ thuật, nhưng thiếu khả năng giải thích, thiếu lựa chọn cho người dùng, hoặc tạo cảm giác bị giám sát, sẽ làm suy giảm niềm tin dài hạn. Niềm tin trong xã hội số không thể được áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính, mà phải được kiến tạo qua trải nghiệm có tính nhân văn, cho tất cả các đối tượng người dân.

Trong các mô hình quản trị hiện đại, đặc biệt là mô hình lấy con người làm trung tâm (human-centered governance), “tính người” được xem là nguyên tắc trọng tâm của thiết kế, không phải là khẩu hiệu đạo đức. Tiếp cận quản trị lấy con người làm trung tâm thừa nhận rằng chính sách và công nghệ luôn tác động đến đời sống tâm lý, cảm xúc và động cơ xã hội của cá nhân.

Từ góc độ tâm lý học, xã hội số không làm thay đổi bản chất con người, nhưng nó khuếch đại những phản ứng tâm lý vốn có như lo âu, so sánh xã hội, cảm giác bị kiểm soát. Nếu không được điều chỉnh bằng các giá trị nhân văn, công nghệ có thể làm gia tăng khoảng cách quyền lực giữa người quản lý hệ thống và người bị quản lý bởi hệ thống tạo nên sự bất bình đẳng.

“Tính người” trong xã hội số, vì thế, đóng vai trò như một bộ lọc giá trị. Nó yêu cầu người thiết kế chính sách và hệ thống không chỉ đặt ra câu hỏi “có hiệu quả hay không”, mà phải là “tác động tâm lý - xã hội của hiệu quả đó là gì” và “có phục vụ các giá trị gốc mà nền hành chính hướng tới không. Một xã hội số bền vững là xã hội nơi công nghệ phục vụ việc nâng cao phẩm giá con người, chứ không làm con người mất đi bản sắc, hoặc bị thu lại vào các dữ liệu/ con số.

img-0253.jpg
Để kiến tạo niềm tin cộng đồng về quản trị xã hội số, giáo dục giữ vai trò then chốt. Trong ảnh: Học sinh Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành lắng nghe chia sẻ về bảo vệ bản thân trên môi trường số.

Tư duy phục vụ trong nền hành chính số

Số hóa thuần túy không đồng nghĩa với cải cách hành chính. Cải cách phải nằm ở tư duy, ở việc thiết kế cách dịch vụ số dựa trên trải nghiệm thực của người dân, thay vì sự thuận tiện cho các cơ quan công quyền.

Về mặt tâm lý, người dân không quan tâm đến quy trình, mà quan tâm đến cảm giác an toàn, sự thuận tiện, dễ hiểu, cảm giác được hỗ trợ và được tôn trọng. Một hệ thống hành chính công đặt con người ở trung tâm cần giảm gánh nặng nhận thức, quá tải thời gian sử dụng màn hình, sử dụng ngôn ngữ gần gũi - dễ hiểu, và có cơ chế hỗ trợ lập tức khi người dùng gặp khó khăn. Những yếu tố này tuy nhỏ về kỹ thuật, nhưng có ý nghĩa lớn trong việc củng cố niềm tin thể chế.

Đặc biệt, với các nhóm yếu thế về kỹ năng số (người già, người khuyết tật), việc thiếu hỗ trợ có thể chuyển thành cảm giác bị kỳ thị hoặc bị loại trừ. Khi đó, chuyển đổi số không còn là công cụ phát triển, mà trở thành nguồn tạo ra bất bình đẳng mới. Quản trị nhân văn đòi hỏi phải nhìn thấy những tác động này ngay từ khâu thiết kế.

Trong xã hội số, dữ liệu cá nhân ngày càng gắn chặt với bản sắc con người. Với thế hệ trẻ, dữ liệu học tập, hành vi và tương tác không chỉ phản ánh quá khứ, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tương lai. Từ góc độ tâm lý học, quyền riêng tư không chỉ là quyền pháp lý, mà là điều kiện tâm lý để cá nhân cảm thấy an toàn và tự chủ.

Về lý thuyết, các khung niềm tin số đều nhấn mạnh vai trò của sự minh bạch và khả năng kiểm soát dữ liệu. Khi cá nhân không biết dữ liệu của mình được sử dụng ra sao, niềm tin bị thay thế bằng sự cảnh giác. Trạng thái này làm giảm động lực tham gia xã hội của cá nhân cũng như hạn chế sự sáng tạo.

Đối với trẻ em và thanh, thiếu niên, dữ liệu quá khứ có thể chứa những sai lầm mang tính phát triển. Nếu thiếu cơ chế bảo vệ, dữ liệu trở thành gánh nặng tâm lý, cản trở quá trình hình thành, phát triển nhân cách. Chính vì vậy, một trong những quyền của con người trong xã hội số là “quyền được lãng quên” trên không gian mạng. Vì vậy, quản lý dữ liệu cần tích hợp quan điểm phát triển con người, coi việc bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng là bảo vệ sức khỏe tâm thần và cơ hội phát triển xã hội.

Một rủi ro nữa của xã hội số chính là xu hướng phân loại con người quá mức. Khi quyết định chính sách dựa chủ yếu trên hồ sơ dữ liệu, cá nhân dễ bị giản lược thành các chỉ số KPI. Điều này dẫn đến xu hướng gán nhãn hình thức có thể làm trầm trọng thêm “hội chứng sống ảo”, “mua bán thành tích ảo” hoặc làm cho cá nhân bị “đóng khung” không thể phát triển vì những đánh giá trong quá khứ.

Để kiến tạo niềm tin cộng đồng về quản trị xã hội số, giáo dục giữ vai trò then chốt. Không chỉ là đào tạo kỹ năng công nghệ, giáo dục cần giúp mọi người được trải nghiệm nó, hiểu về quyền dữ liệu, trách nhiệm số và cách tham gia có ý thức vào không gian hành chính số. Khi công dân có năng lực số và hiểu biết tâm lý - xã hội, mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân sẽ chuyển từ phụ thuộc, bắt buộc sang tự nguyện, hợp tác. Niềm tin khi đó không phải là sự chấp nhận thụ động, mà là niềm tin động lực, đủ vững để cá nhân thích ứng và chủ động cập nhật với những thay đổi công nghệ.

Chỉ khi người dân cảm thấy mình được tôn trọng, được bảo vệ, hỗ trợ và được thấu hiểu trong không gian số, niềm tin xã hội nói chung sẽ được củng cố. Nó cần được xem là một định hướng chiến lược để xây dựng một xã hội số nhân văn và bền vững như mong đợi ■

Quản trị nhân văn đòi hỏi phải thừa nhận giới hạn của dữ liệu. Dữ liệu chỉ hỗ trợ quyết định, không thể thay thế phán đoán có trách nhiệm của con người. Nếu không, xã hội số có nguy cơ tái tạo bất bình đẳng dưới hình thức tinh vi hơn, khó nhận diện hơn.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phát biểu trong phiên thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế-xã hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Phạm Thắng

Tăng trưởng kinh tế cần thật sự lan tỏa đến đời sống Nhân dân

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, không chỉ là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, mà những vấn đề rất cụ thể như: bàn cách tháo gỡ điểm nghẽn từ cơ sở, khơi thông nguồn lực hay xác định rõ trách nhiệm thực thi cũng đã được đặt lên bàn nghị sự. Bởi theo các đại biểu, đích đến của mọi quyết sách đều phải và cần được đo bằng chuyển biến thực chất trong sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.

Khi Nhà nước mở rộng không gian phát triển bằng các thể chế vượt trội, thì chính lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ là người trực tiếp chuyển hóa các cơ hội đó thành giá trị mới cho xã hội. Ảnh: Hương Nguyên

Giao điểm của kiến tạo phát triển thực chất

Không gian chính sách dành cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp đã rộng mở hơn trước. Song, điều doanh nghiệp cần còn là việc những chính sách đó thật sự ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, để họ có thể yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn trong một môi trường kinh doanh có thể dự báo được.

TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần.

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.