Không để thuốc lá trở thành mối đe dọa thường trực với giới trẻ
Theo các số liệu được dẫn tại tọa đàm "Thế hệ người trẻ Việt nói không với thuốc lá” do Báo Nhân Dân tổ chức, mỗi năm, Việt Nam ghi nhận hơn 100.000 ca tử vong liên quan đến thuốc lá, trong đó khoảng 84.500 ca do hút thuốc chủ động và 18.800 ca do tiếp xúc với khói thuốc thụ động. Tổn thất kinh tế do chi phí y tế và suy giảm năng suất lao động cũng là gánh nặng đáng kể đối với xã hội.
Đáng lo ngại, bên cạnh thuốc lá điếu truyền thống, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng đang tạo thêm thách thức đối với công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá. Với hình thức đa dạng, cách quảng bá hấp dẫn và khả năng tiếp cận thông qua mạng xã hội, các sản phẩm này có nguy cơ khiến thanh thiếu niên tò mò, thử sử dụng rồi lệ thuộc vào nicotine.
Các số liệu được trình bày tại tọa đàm cho thấy, nội dung quảng bá nicotine và thuốc lá thế hệ mới trên mạng xã hội đã ghi nhận hơn 3,4 tỷ lượt xem, tiếp cận khoảng 385 triệu người, trong đó có 16 triệu người dưới 18 tuổi.
Hệ thống gần 700 cơ sở y tế cũng ghi nhận 1.224 trường hợp nhập viện trong một năm do ảnh hưởng của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Những con số này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận vấn đề không chỉ từ góc độ hành vi cá nhân, mà còn từ môi trường tiếp thị, khả năng tiếp cận sản phẩm và trách nhiệm quản lý.
Bà Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia tại Việt Nam của Tổ chức Chiến dịch vì Trẻ em không thuốc lá, nhấn mạnh: “Thuốc lá là sản phẩm hợp pháp duy nhất nhưng giết chết gần một nửa số người sử dụng nó”. Theo bà, những quan điểm cho rằng thuốc lá thế hệ mới an toàn hơn cần được xem xét trên cơ sở bằng chứng y tế và mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Bà Huyền dẫn số liệu nghiên cứu của Bộ Y tế cho biết, Việt Nam hiện có hơn 16 triệu người sử dụng thuốc lá. Đằng sau con số đó còn là hàng chục triệu người không hút thuốc nhưng vẫn phải chịu ảnh hưởng từ khói thuốc, trong khi không phải lúc nào họ cũng có khả năng chủ động tránh tiếp xúc.
Thực tế tại các điểm bán lẻ cũng cho thấy những bất cập đáng quan tâm. Khảo sát được đề cập tại tọa đàm ghi nhận 69% số trường học có điểm bán lẻ thuốc lá trong bán kính 100m; 57,6% điểm bán trưng bày sản phẩm ở độ cao dưới 1m, gần các mặt hàng dành cho trẻ em. Khi thuốc lá được bày bán công khai ngay trong môi trường sinh hoạt hằng ngày, nguy cơ trẻ em tiếp xúc sớm với sản phẩm càng gia tăng.
Từ thực trạng này, bà Huyền đề xuất tập trung vào ba nhóm giải pháp: tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc buôn bán trái phép, nhất là trên mạng xã hội và các nền tảng thương mại số; tiếp tục truyền thông về tác hại của thuốc lá, khuyến khích người đang sử dụng từ bỏ và ngăn người chưa hút bắt đầu sử dụng; đồng thời siết chặt việc quảng bá, khuyến mại và kiểm soát hoạt động bán thuốc lá quanh trường học.
“Những người chưa sử dụng thì đừng bao giờ thử cái sản phẩm độc hại này”, bà Huyền nhấn mạnh.
Đổi mới cảnh báo sức khỏe: Không thể để quy định đứng yên
Một vấn đề khác được đặt ra tại tọa đàm là hiệu quả cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá. Đây là công cụ quan trọng giúp người tiêu dùng nhận diện nguy cơ, đồng thời hạn chế sức hấp dẫn của sản phẩm, nhất là đối với người trẻ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y tế công cộng, cho biết: “Tỷ lệ người hút thuốc chú ý đến cảnh báo giảm từ 91,1% năm 2015 xuống 80% năm 2024, theo Điều tra tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (PGATS) tại 37 tỉnh, thành phố. Đánh giá năm 2019 của Trường đại học Y tế công cộng cũng ghi nhận hiệu quả của cả 6 mẫu cảnh báo đều giảm”.
Những số liệu này cho thấy cảnh báo sức khỏe không thể chỉ được xem là yêu cầu kỹ thuật trên bao bì. Nếu hình ảnh và thông điệp không được đổi mới phù hợp, tác dụng cảnh báo có thể suy giảm theo thời gian, nhất là khi người sử dụng đã quen thuộc với những hình ảnh được lặp lại trong nhiều năm.
Theo quy định của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012, cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh phải chiếm 50% diện tích mặt chính trước và sau của bao thuốc lá. Tuy nhiên, quy định về diện tích cảnh báo và bộ 6 hình ảnh hiện hành đã duy trì trong thời gian dài mà chưa được cập nhật tương xứng với yêu cầu thực tiễn.
Trong khi đó, nhiều quốc gia đã tăng diện tích cảnh báo để nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ. Theo các thông tin được trình bày tại tọa đàm, Thái Lan áp dụng mức 85%; Lào và Singapore ở mức 75%. Canada và Australia triển khai bao bì chuẩn hóa, trong đó diện tích dành cho cảnh báo sức khỏe có thể chiếm từ 85% đến 90%.
Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu Việt Nam cần tiếp tục rà soát quy định hiện hành, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá hiệu quả của các phương án cảnh báo trên cơ sở khoa học. Đề xuất nâng diện tích cảnh báo lên 85% được nêu tại tọa đàm, cùng kiến nghị định kỳ thay đổi hình ảnh, là những nội dung cần được xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Điều quan trọng là cảnh báo phải đủ rõ, dễ nhận diện và có khả năng tác động đến nhận thức, hành vi. Với thanh thiếu niên, nhóm có thể bị ảnh hưởng bởi hình thức bao bì và sức hấp dẫn của sản phẩm, việc giảm tính bắt mắt của thuốc lá, tăng diện tích cảnh báo và truyền tải thông tin trực quan có ý nghĩa thiết thực trong phòng ngừa sử dụng.
Hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi
Từ thực trạng thuốc lá thế hệ mới và những bất cập trong kiểm soát thuốc lá truyền thống, yêu cầu hoàn thiện thể chế được đặt ra ngày càng rõ nét. Pháp luật cần vừa xác định phạm vi điều chỉnh đầy đủ, vừa tạo cơ sở cho các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm.
Ông Nguyễn Hồng Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa và Xã hội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho biết: “Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã được Chính phủ trình lên Quốc hội vào ngày 3/10/2026. Có một số nội dung tập trung vào các giải pháp chính sách về giảm nguồn cung thuốc lá và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá”.
Theo định hướng này, hoàn thiện pháp luật không chỉ là bổ sung quy định đối với sản phẩm mới, mà còn phải tăng cường các công cụ kiểm soát nguồn cung, hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng trong cộng đồng. Đây là hai hướng tác động có quan hệ chặt chẽ: kiểm soát nguồn cung sẽ khó đạt hiệu quả bền vững nếu nhu cầu sử dụng không được hạn chế; ngược lại, tuyên truyền nâng cao nhận thức sẽ thiếu sức mạnh nếu sản phẩm vẫn dễ dàng đến tay người tiêu dùng.
Một dấu mốc quan trọng là Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội về việc cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, được thực hiện từ năm 2025. Chủ trương này thể hiện sự quyết liệt trong bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước những nguy cơ từ thuốc lá thế hệ mới. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý, lực lượng thực thi pháp luật và các địa phương; chú trọng phát hiện, xử lý hành vi sản xuất, kinh doanh, vận chuyển và quảng bá trái phép, nhất là trên môi trường số.
Cùng với đó, việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cần được xem xét trong mối liên hệ với các quy định về cảnh báo sức khỏe, trưng bày, quảng cáo, khuyến mại và bán thuốc lá. Những quy định rõ ràng, đồng bộ sẽ góp phần hạn chế cách thức tiếp thị lợi dụng khoảng trống quản lý, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xử lý vi phạm thống nhất.
Đối với môi trường học đường, các chuyên gia cho rằng, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường kiểm tra các điểm bán lẻ, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy định, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương. Công tác tuyên truyền cũng cần chuyển từ cung cấp thông tin một chiều sang giúp học sinh nhận diện thủ đoạn tiếp thị, hiểu rõ nguy cơ lệ thuộc nicotine và biết cách từ chối lời mời sử dụng thuốc lá.