Qua xứ trầm hương: Khơi lại hương xưa, xây tương lai mới

Nhiều tài liệu và ghi chép cổ đã chứng minh, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới (cùng với Ấn Độ, Bangladesh và một vài nước trong khu vực Đông Nam Á) có lịch sử khai thác, sản xuất, chế biến và buôn bán trầm hương lâu đời. 

Khu rừng trồng cây dó bầu do Công ty Trầm Hương Khánh Hòa đầu tư, mỗi cây có gắn chip quản lý bằng AI. (Ảnh MỸ HÀ)
Khu rừng trồng cây dó bầu do Công ty Trầm Hương Khánh Hòa đầu tư, mỗi cây có gắn chip quản lý bằng AI. (Ảnh MỸ HÀ)

Theo cuốn Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi (1135-1189), trầm hương như chúng ta đã biết, trong lịch sử người Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, phần lớn đều nhập khẩu từ Việt Nam.

Số liệu của Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (CIFOR) cho biết, ngành công nghiệp liên quan đến trầm hương trên thế giới có giá trị ước tính tại năm 2019 là 32 tỷ USD, dự kiến sẽ đạt 64 tỷ USD vào năm 2029. Trầm hương được thương mại hóa dưới nhiều hình thức khác nhau như miếng trầm, tinh dầu trầm, bột trầm, nhang trầm, trầm mỹ nghệ..., trong đó trầm hương dạng miếng là sản phẩm được giao dịch hàng đầu trên toàn cầu. Tại nước ta, cuối những năm 1990, nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, tránh khai thác cạn kiệt, Chính phủ đã cấm khai thác, mua bán trầm hương và xem đó là hàng quốc cấm.

Đánh thức một thương hiệu

Trong cuộc trò chuyện với tôi, ông Nguyễn Văn Tưởng, Chủ tịch Công ty Trầm Hương Khánh Hòa cho biết, giai đoạn đó ông là cán bộ thường trú tại khu vực Tây Nguyên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Những chuyến đi thực tế tại địa bàn đã đem lại cho ông những kiến thức đầu tiên về trầm và ông băn khoăn: Trầm hương là một sản vật quý có tính đặc hữu của đất nước, vừa là nét văn hóa cao quý, đặc sắc, vừa mang giá trị kinh tế cao, cho nên cần biết cách quản lý và khai thác chứ không nên đi theo lối mòn tư duy “không quản được thì cấm”! Mối duyên nghiệp của ông với trầm hương cũng bắt đầu từ đó. Ông viết một số bài báo, tích cực vận động ngành chức năng, kể cả các cơ quan quản lý ở Trung ương tổ chức hội thảo về trầm hương trên đất Khánh Hòa vào năm 2004 và thành công ngoài mong đợi khi những tham luận đã phân tích thấu đáo, góp phần “cởi trói” cho trầm hương Việt Nam.

Ngày 10/8/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/2006/NĐ-CP về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm; trầm hương chính thức được phép xuất nhập khẩu và mua bán, nếu đáp ứng các quy định pháp lý liên quan, nhất là giấy phép CITES khi xuất khẩu.

“Tôi quyết định nghỉ công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, xuống Nha Trang, thắp hương trước Tháp Bà Ponagar và nguyện đánh thức thương hiệu Trầm Hương Khánh Hòa…”, ông Tưởng chia sẻ.

Quả thật, đó là sự thức tỉnh một kho báu đang tạm ngủ quên. Trầm hương Khánh Hòa vốn đã là một mặt hàng được săn đón và ưa chuộng từ nhiều thế kỷ trước. Việc buôn bán, giao thương giữa Chăm-pa và Nhật Bản được ghi chép lại trong sự kiện năm 1606, Tokugawa Ieyasu (người sáng lập Mạc phủ Tokugawa, thể chế chính trị nắm quyền Nhật Bản từ năm 1600 cho đến Minh Trị Duy Tân năm 1868) gửi thư cho Quốc vương Chăm-pa ghi rõ: “Chúng tôi muốn có trầm loại thượng hảo hạng. Những loại có phẩm chất vừa vừa hay dưới trung bình thì xin đừng gửi…”.

Đi theo Con đường Hương liệu (Incense Road), trầm hương Khánh Hòa thông qua các thương cảng lớn như Hội An (Việt Nam), Hương Cảng (Hồng Công, Trung Quốc) chinh phục toàn thế giới. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhận định: “Trầm hương sẽ là ngành kinh tế hội nhập với thế giới dễ nhất vì có tính văn hóa và tư tưởng toàn cầu”.

Trầm hương hiện được ứng dụng rộng rãi trong các ngành: Nước hoa cao cấp; liệu pháp tinh thần, trị liệu; dược phẩm; mỹ phẩm; chế tác thủ công mỹ nghệ; nghi lễ tín ngưỡng, tâm linh… Các thị trường như Trung Đông, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc luôn có nhu cầu nhập khẩu trầm hương ngày càng cao. Tuy nhiên, theo báo cáo nghiên cứu thị trường của Trung tâm Sáng tạo và Ươm tạo, Trường đại học Ngoại thương, xuất khẩu trầm hương của Việt Nam mới đứng thứ 24 trên thế giới và chỉ chiếm 0,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới, còn rất thấp so với danh tiếng và tiềm năng sẵn có.

Phát triển bền vững một ngành hàng

Hiện nay nghề trầm không còn là những chuyến đi rừng “ngậm ngải tìm trầm” cầu may, khai thác tận diệt nguồn trầm hương ngoài tự nhiên nữa. Khánh Hòa hiện có hàng nghìn doanh nghiệp, hộ kinh doanh tham gia các công đoạn sản xuất, khai thác, chế biến và mua bán trầm hương.

Trầm hương Khánh Hòa giờ đã và đang chuyển dịch thành lâm sản được nuôi trồng với nhiều doanh nghiệp lớn quản lý những cánh rừng dó bầu được chăm chút bài bản, sử dụng các phương pháp như: Tác động tự nhiên có kiểm soát hoặc tác động nhân tạo để tạo trầm. Ước tính, cứ 1 ha đất rừng có thể trồng được 1.000 cây, nếu nuôi trồng đúng phương pháp thì sau 10-12 năm sẽ thu được sản phẩm.

Chính quyền tỉnh Khánh Hòa luôn đánh giá cao và hoan nghênh các doanh nghiệp tích cực phát triển kinh tế trầm hương. Việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cho trầm hương đang được tỉnh đẩy mạnh nhằm bảo vệ thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đưa trầm hương Khánh Hòa vươn tầm quốc tế.

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa Lê Văn Hoa cho biết: “Tôi tin rằng các doanh nghiệp đó trước sau gì cũng thành công vì họ bắt nhịp đúng và đi đúng hướng với giá trị văn hóa của vùng đất này. Chúng tôi rất khuyến khích các đơn vị tình nguyện tổ chức thêm hoạt động quảng bá, mở rộng thị trường cho trầm hương Khánh Hòa. Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ về hành lang pháp lý, hỗ trợ những yếu tố giá trị văn hóa lịch sử để chắp cánh thêm cho các doanh nghiệp”.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Thái, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phát triển bền vững ngành trầm hương Việt Nam trước hết không chỉ ở mở rộng diện tích cây trồng, mở rộng sản xuất, kinh doanh mà cần thay đổi về tư duy. Người Việt Nam phải hiểu về trầm hương và văn hóa trầm hương là điều kiện tiên quyết. Các ngành khoa học liên quan đến trầm hương (cả khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) cần tích cực, chủ động trên các diễn đàn khoa học quốc tế và trong nước, để tăng cường khẳng định sức mạnh của văn hóa trầm hương Việt Nam.

“Đây cũng là cách thức để tăng cường “sức mạnh mềm”, lan tỏa và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam đến thế giới. Nhà nước và xã hội cần quan tâm hơn nữa đến ngành trầm hương, đầu tư nhiều hơn nữa trí tuệ và tiền của để phát triển văn hóa trầm hương. Công việc cấp bách và thiết thực hiện nay là đăng ký sở hữu trí tuệ và bản quyền thương hiệu đối với trầm hương Việt Nam”, Tiến sĩ Thái nhấn mạnh.

Qua xứ trầm hương lần này, trong tôi có một niềm tin rằng: Với giá trị văn hóa sâu sắc và tiềm năng kinh tế to lớn, trầm hương Khánh Hòa nói riêng, Việt Nam nói chung đang đứng trước cơ hội vươn lên khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. Nếu được đầu tư đúng hướng, chuẩn hóa chất lượng và xây dựng chiến lược thương hiệu bài bản, trầm hương hoàn toàn có thể trở thành một biểu tượng quốc gia, sánh vai cùng nước hoa Pháp, whiskey Scotland hay nhân sâm Hàn Quốc… Tương lai của ngành hàng trầm hương không chỉ là xuất khẩu một sản vật, mà còn là lan tỏa một tinh thần văn hóa Việt Nam độc đáo, đầy bản sắc đến với thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.