Qua những miền văn hóa Nam Tây Nguyên

Nam Tây Nguyên mùa nắng. Mùa này, miền đất cao nguyên khoe vẻ đẹp hoang dã và lãng mạn, những cánh chim C’rao, Cơ tia sải cánh giữa đại ngàn. Thung thăng từ cao nguyên Langbiang huyền thoại xuôi về B’Lao, chúng tôi được hòa vào những “miền mơ tưởng” khi bếp lửa nhà sàn được thắp lên, điệu kèn bầu, nhịp chiêng bắt đầu rậm rực.
Vũ điệu Arya quyến rũ của người dân tộc Chu Ru.
Vũ điệu Arya quyến rũ của người dân tộc Chu Ru.

Nhà Tây Nguyên học người Pháp Jacques Dournes, bút danh Dam Bo (tên này do người Cơ Ho đặt cho ông), từng cắt nghĩa: Khi bếp lửa nhà sàn bùng cháy là khi người Tây Nguyên sống một đời sống khác.

Đời sống sinh động của những câu chuyện khan, các huyền thoại... thế giới của mơ tưởng. Những ngày cuối thu, chúng tôi lại về với những làng người Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, trải nghiệm những sắc thái văn hóa tộc người phía Nam Tây Nguyên-Lâm Đồng.

Hoàng hôn choàng tím cao nguyên Langbiang, những nếp nhà ở Bon Dơng, Đăng Ja bập bùng ánh lửa. Những nhóm biểu diễn cồng chiêng thao thiết nhịp điệu mừng khách.

Cây nêu cao chừng bốn, năm mét được dựng lên, rượu cần đã được bày biện theo khuôn phép của Yàng, bếp lửa hừng hực cháy; những chàng trai, cô gái miền sơn cước đã tụ hợp, tiếng tù và khai hội của nhóm trưởng Pling vang vọng. “Này tôi mời gọi hỡi thần linh/ Khui rượu cần tôi mời nếm thử/ Rượu cần ngon tôi mời thần uống...”.

Thủ tục xin phép thần linh vừa dứt, các điệu chiêng mừng khách quý, mừng ngày hội mùa, tiếng chiêng drênh gọi mưa... tấu lên thổn thức. Vòng xoang “nở” rộng, nhịp chiêng ngân dài.

Xoang là múa. Đây là hình thức múa tập thể phổ biến của nhiều dân tộc trên đại ngàn Tây Nguyên. Xoang thể hiện sức mạnh cộng đồng. Bếp lửa đã đượm lòng, cùng chúng tôi vít cong cần rượu, Pling bảo, cồng chiêng và rượu cần là những thực thể không thể thiếu trong đời sống của tộc người bản địa Nam Tây Nguyên.

Rượu cần, thức uống tâm linh, ẩm thực văn hóa cư dân đại ngàn có tự lúc nào, ít ai còn tường tận. Những người con trên miền rừng xanh, núi đỏ chỉ biết rằng “trong sử thi đã có”. Để có ché rượu thơm nồng, dịu ngọt, uống vào lòng người nhẹ tênh cũng lắm công phu. Bà Krajan Glế ở Bon Dơng bảo, phụ nữ ở đây phần đông đều biết làm rượu cần.

Các loại gạo, nếp, bắp... đều làm được rượu. Nhưng, rượu cần thương hiệu Langbiang có bí quyết riêng. Chính lúa rẫy và men rừng đã tạo ra mùi hương đặc trưng. Theo bà Glế, ngày xưa làm rượu cần kỳ công lắm. Trước khi làm rượu phải kiêng “chuyện vợ chồng”, lúc nào thân thể khỏe mạnh, sạch sẽ mới làm. Người lạ không được vào nơi ủ rượu.

Cái nắp ché cũng là sự công phu, được làm từ tro với nước. Khi rượu đến độ chín, hương thơm tỏa khắp nhà sàn dài. Rượu cần Langbiang đã được cấp nhãn hiệu sở hữu trí tuệ. Men say đại ngàn Nam Tây Nguyên có thêm cơ hội lan xa, cùng mùi hương đặc trưng, đắm đuối.

Người Cơ Ho, Mạ khi diễn tấu nhạc cụ không bao giờ kèm theo lời ca. Bởi thế, tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng kèn bầu (m’buốt, woăt), đàn ống tre (dindg kơrla), sáo bre... khi đã tấu lên, âm giai trong lành, bay bổng, phóng khoáng như chim C’rao sải cánh giữa đại ngàn. Tự ngàn đời, bên mái nhà sàn dài trầm mặc ở các buôn làng Nam Tây Nguyên, khi nghe mùi khói bếp, mùi thịt nướng, hương rượu cần nồng nàn, khi đó có tiếng chiêng tấu lên rộn rã. Con người như được thăng hoa về miền nguyên sơ.

Những người con của núi chân chất, bình dị, thô mộc khi lên rẫy, vào rừng; nhưng khi “đánh thức hồn chiêng”, thần thái họ tự nhiên đổi khác, dễ cảm nhận nhưng khó diễn tả. Điệu gung me rộn ràng, K’Druynhs bảo: “Đây là điệu chiêng cơ bản của người Cơ Ho. “Gung me” là con đường cái.

Vào rừng phải bắt đầu từ đường cái mà...”. Người Cơ Ho có 36 điệu chiêng cổ, nhưng giờ đây có lẽ không còn ai nhớ đủ. Nào điệu gung me (đón khách), cing ting (tiếng chim đại bàng), pép tơh jun (săn nai), lô na (gọi nhau), ding biếp (mừng lúa mới)... sau này phát triển thêm điệu mới mừng lễ hội.

Tôi từng trò chuyện với Nghệ nhân Ưu tú K’Bes, ông nói: “Bộ chiêng sáu của người Cơ Ho, Mạ có nhiều tên gọi, nhưng phổ biến theo thứ tự: ching me, rơnul, ndơn, ndol, t’rơ, thêt.

Mỗi vị trí trong bộ sáu thang âm đều có âm và tiết tấu riêng. Ching me (chiêng mẹ) giữ nhịp tấu gọi dàn chiêng giao hòa”. Mỗi điệu chiêng của người Tây Nguyên đều gửi gắm một thông điệp với thần linh, với rừng xanh, với cộng đồng... trong chính không gian thiêng của buôn làng, không gian văn hóa nuôi sống cồng chiêng.

Xuôi về phía đông cao nguyên Langbiang, chúng tôi may mắn được hòa nhịp Tamya cùng Nghệ nhân Ưu tú Touneh Ma Bio và những chàng trai, cô gái Chu Ru ở Đơn Dương, Lâm Đồng.

Những tia nắng cuối ngày dần tắt trên đỉnh Iamơnhi. Âm ba của sár (đồng la), sơgơr (trống) quyện hòa cùng điệu rơkel (kèn bầu) vang xa lên tận đỉnh núi. “Đối với người Chu Ru, trong các sự kiện có tính cộng đồng, cộng cảm, không thể thiếu các điệu Tamya trên hợp âm cồng chiêng, rơkel và trống gơnang. Đó là lễ thức quan trọng trong đời sống tâm linh, văn hóa cộng đồng người Chu Ru”, bà Ma Bio gợi mở.

Dòng Đạ Nhim vẫn tỉ tê, ngưng tấu rơkel, Ya Huy nói: “Bà Ma Bio là người nổi tiếng cộng đồng Chu Ru mình đó, bởi đã có công “hồi sinh” Tamya bị lãng quên trong thời gian dài”.

Tamya được sinh ra trên chính nền âm nhạc cổ cùng tên với điệu vũ. Bởi vậy, trình diễn “ngôn ngữ hình thể” không thể thiếu nhịp chiêng và ngược lại, điệu chiêng ngân dài mà vắng điệu vũ dân gian cũng sẽ “lạc phách”, thiếu sự khơi gợi. “Tamya là múa. Còn Arya, T’rumpô, Păhgơnăng, Damtơra... là các vũ điệu. Đối với người Chu Ru, trong các dịp lễ hội dù lớn hay nhỏ, như lễ Pơthi (bỏ mả), Mơ Nhum (cúng thần Lúa), Bơ Mung (thần Đập nước)... khi âm thanh của chiêng ba, tiếng trống gơnang và rơkel vang lên thì mọi người cùng hòa nhịp Tamya. Đó là sự giao hòa âm dương, biểu hiện của sự tương giao bền chặt”, nghệ nhân Ma Bio nói.

Năm 2007, Ma Bio đứng ra thành lập đội chiêng để truyền dạy cho lớp trẻ trong buôn đánh chiêng, đánh trống và các điệu vũ truyền thống. Giờ đã có cả trăm đứa tấu chiêng, hòa nhịp Tamya nhuần nhuyễn.

Ngắm người thầy, nghệ nhân Ma Bio chơi chiêng, Ti Na bảo: Người Chu Ru gọi nhạc cụ bằng đồng có núm ở giữa là chêng hay ching, còn loại không có núm là char hay sár. Biên chế dàn nhạc để diễn tấu phổ biến của người Chu Ru có dàn chiêng ba gắn trên khung tre, thứ tự từ phải sang trái, từ to đến nhỏ là Ame (mẹ), Dra (dì trẻ) và Ànạ (con gái); rơkel và sơgơr gơnang. “Một bài hoàn chỉnh trong lễ hội như Arya, T’rumpô phải có sự kết hợp giữa tiếng chiêng, kèn bầu và trống gơnang”, Ti Na chia sẻ.

Sương đêm giăng mắc miền sơn thôn. Chúng tôi dùng dằng trong điệu Păhgơnăng tiễn khách bịn rịn của thế hệ kết nối mạch nguồn văn hóa của người Chu Ru.

Sáng, những dải mây trắng ủ ấp trên cao nguyên B’Lao. Hương chè dìu dịu trên cung đường về xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Trong nhà dài (hìu rọt) truyền thống người Mạ, nghệ nhân K’Breoh đang ủ rượu cần chuẩn bị đón khách, ông mở lời: “Xưa, ở xứ Mạ có những ngôi nhà rất dài như những bức tường thành uốn lượn giữa thung lũng, bao bọc lấy buôn làng giữa đại ngàn hùng vĩ”.

Chúng tôi lạc vào miền mơ tưởng. Giữa những thung lũng ngập nắng và gió, những ngôi nhà dài, dài như định thức văn hóa “tiếng chiêng ngân” trong trường ca Ðam San hiện lên, gợi bao xúc cảm và suy tưởng.

Trước mỗi cầu thang, những cụ ông ngồi trầm tư vân vê tẩu thuốc, những người đàn bà nhặt rau cho bữa cơm chiều, những chàng trai thổi sáo bre và những sơn nữ khoan thai lên bảy bậc cầu thang giũ mái tóc chảy dài như suối.

Trước sân, những đứa trẻ hồn nhiên với trò chơi núi rừng. Dưới gầm sàn, đàn lợn ủn ỉn ủi đất và đàn gà cục tác gọi nhau. Giữa đại ngàn, thảng hoặc tiếng chim vỗ cánh ngang qua bầu trời...

Đó là hình ảnh thuở trước. Hôm nay, ngôi nhà dài vỏn vẹn một bếp tại Lộc Tân được buôn làng phục dựng, đó như lẽ tự nhiên để nhắc nhớ văn hóa cội nguồn. Già K’Breoh nhóm bếp, lũ trẻ quây quần nghe kể khan, học đánh chiêng, chơi m’buốt, dindg kơrla...

Ngôi nhà giữa buôn người Mạ dài hơn mười sải, bởi chỉ làm nơi sinh hoạt cộng đồng. K’Breoh bảo, nhà dài chỉ là một kiểu kiến trúc đặc thù, nơi cư trú quen thuộc của cư dân sống giữa chốn rừng núi hoang vu.

Thước đo nhà dài không nằm ở độ dài, độ ngắn mà được “đo” bằng thiết chế đại gia đình. “Nhà dài là nơi để ở, chống chọi với thiên tai, thú dữ và còn là nơi gắn kết bao thế hệ dòng tộc. Nhà dài như tiếng chiêng không có vách ngăn, nghĩa là không có sự ngăn cách về không gian sinh hoạt, mỗi hộ chỉ phân định bằng bếp lửa. Sống quần tụ, nhưng hầu như không xảy ra mâu thuẫn. Giờ thì hiếm rồi...”, nghệ nhân K’Breoh trầm ngâm.

Giống các dân tộc thiểu số bản địa khác ở Tây Nguyên, các dân tộc bản địa Cơ Ho, Mạ, Chu Ru tại Lâm Đồng chưa biết, hoặc không hề biết đến công tác “quy hoạch”. Song, quan sát cách bố trí buôn làng của họ, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, họ đã cố gắng tìm cách tổ chức buôn làng một cách hợp lý nhất với môi trường sống, gắn với các hoạt động kinh tế, văn hóa. Và một trong những tiêu chí dễ nhận ra “tầm vóc” của các buôn làng là số lượng nóc nhà. Giờ thì, nhà dài có lẽ không còn là thước đo “tầm vóc” của buôn làng nữa...

Hôm nay, giữa cao nguyên B’Lao nắng gió, chúng tôi may mắn được ngắm nhìn kiểu kiến trúc đặc thù còn rất hiếm ở Nam Tây Nguyên, được nghe Ka Gon ngân nga vài khúc tăm pớt, K’Vệ tấu khúc kơrla lay động tâm hồn.

Lâm Đồng có khoảng 224.000 cư dân người dân tộc thiểu số bản địa, chiếm 17% dân số toàn tỉnh. Đây là những tộc người, chủ nhân của di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Hiện các buôn làng đang gặp nhiều thách thức trong sự tiếp biến văn hóa. May mắn, nhiều nghệ nhân, già làng và một bộ phận giới trẻ đang quan tâm đến việc khôi phục, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc mình. Các cơ quan nhà nước cần xem xét có cơ chế, chính sách thiết thực, phù hợp để “thắp lửa” bản sắc văn hóa các tộc người. “Gìn giữ, phát huy hồn cốt văn hóa các dân tộc thiểu số đang được địa phương rất quan tâm.

Cùng với những hoạt động truyền cảm hứng, chúng tôi mong muốn đưa những loại hình văn hóa đặc trưng, khác biệt đó trở thành sản phẩm du lịch. Bởi, sự hấp dẫn du lịch suy cho cùng đó là sự hấp dẫn về văn hóa”, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng, Trần Thanh Hoài gợi mở.

Chia tay những buôn làng Nam Tây Nguyên, vấn vương tự tình của nhiều nghệ nhân, già làng tộc người bản địa: Đối với người Tây Nguyên, rừng còn, buôn làng còn; rừng dạy dân làng cách sống. Từng bài chiêng, bài cồng là tiếng ca, tiếng hát, tiếng gọi bầy của muôn loài. Từng họa tiết hoa văn, điệu vũ dân gian là khắc họa đời sống gắn với không gian rừng... phải được gìn giữ, trao truyền và tiếp nối.

Có thể bạn quan tâm

Thí sinh Huỳnh Kim Tho có số điểm cao nhất trong đêm Chung kết 3. (Ảnh: LINH BẢO)

Ba thí sinh Huỳnh Kim Tho, Trần Văn Khiêm và Võ Thị Bé bước vào đêm Chung kết xếp hạng Chuông vàng vọng cổ 2026

Tối 20/9, đêm chung kết 3 Cuộc thi Chuông vàng vọng cổ 2026 với chủ đề “Chạm khúc ân tình” đã được diễn ra tại phim trường Đài Phát thanh và Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Đêm thi không chỉ đưa khán giả đến với những trích đoạn cải lương giàu cảm xúc về tình đất, tình người mà còn mang đến không ít điều bất ngờ.

Chương trình nghệ thuật hoành tráng kết thúc chuỗi sự kiện Festival Thăng Long-Hà Nội lần thứ II, năm 2026.

[Ảnh] Bế mạc Festival Thăng Long-Hà Nội lần thứ II năm 2026

Tối 20/9, tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) đã diễn ra chương trình Bế mạc Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026, khép lại loạt sự kiện diễn ra từ ngày 11 đến 20/9/2026 với hơn 16 hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quy tụ hơn 3.000 nghệ sĩ, diễn viên, nghệ nhân tham gia.

Chương trình nghệ thuật đặc sắc tại lễ khai mạc. (Ảnh: ĐỨC THẮNG)

Khai mạc Lễ hội Thành Tuyên 2026

Tối 20/9, tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang tổ chức khai mạc Lễ hội Thành Tuyên năm 2026. Đây là sự kiện văn hóa, du lịch đặc sắc, góp phần quảng bá hình ảnh đất và người Tuyên Quang đến du khách trong nước và quốc tế.

Các cháu thiếu nhi biểu diễn trong chương trình "Đêm trăng làng cổ" tổ chức tại Làng cổ Đường Lâm, phường Sơn Tây, Hà Nội. (Ảnh: HÀ THÀNH)

Đường Lâm tổ chức chương trình “Đêm trăng làng cổ”

Tối 19/9, tại không gian Làng cổ Đường Lâm, phường Sơn Tây (Hà Nội) tổ chức chương trình Trung thu với chủ đề “Đêm trăng làng cổ”, mang đến cho thiếu nhi, nhân dân và du khách một đêm hội trăng rằm vui tươi, đầm ấm và giàu bản sắc văn hóa truyền thống.

Nguyễn Vũ Linh mang trang phục “Hồn thiêng Âu Lạc” đến Mister International 2026. (Ảnh: KIẾNG CẬN)

Nguyễn Vũ Linh mang trang phục “Hồn thiêng Âu Lạc” đến Mister International 2026

Trước thềm chung kết Mister International 2026, Nguyễn Vũ Linh vừa công bố bộ trang phục dân tộc anh sẽ mang đến cuộc thi. Với tên gọi “Hồn thiêng Âu Lạc”, tác phẩm của nhà thiết kế Đặng Thành Pháp lấy cảm hứng từ vẻ đẹp tinh thần, văn hóa thời Âu Lạc, mang theo niềm tự hào về cội nguồn của dân tộc Việt Nam.

Bìa cuốn sách Người khách mới trên chuyến xe 461 của nhà văn Nguyễn Khắc Cường. (Ảnh: LINH BẢO).

Những ân tình đô thị trong cuốn sách “Người khách mới trên chuyến xe 461”

Nhà văn Nguyễn Khắc Cường vừa ra mắt cuốn sách mang tựa đề “Người khách mới trên chuyến xe 461”. Buổi giới thiệu cuốn sách vừa diễn ra vào sáng 20/9 tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ gói gọn trong việc tìm hiểu tác phẩm mà còn mở rộng hơn về chuyện viết, chuyện đọc của người trẻ hôm nay.

Đoàn nghệ nhân, diễn viên và già làng uy tín tham gia tái hiện lễ hội "Ăn mừng lúa mới". (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp).

Tái hiện lễ hội "Ăn mừng lúa mới" của đồng bào Giẻ Triêng tại Hà Nội

Ngày 20/9, tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), đoàn nghệ nhân, diễn viên và già làng uy tín dân tộc Giẻ Triêng, xã Phước Chánh, thành phố Đà Nẵng đã tham gia tái hiện lễ hội “Ăn mừng lúa mới” (Tết mùa), giới thiệu những nghi lễ, phong tục gắn với đời sống văn hóa của cộng đồng Giẻ Triêng.

Lối vào Quảng trường Đỏ lịch sử ở Moskva. (Ảnh: THÙY VÂN)

Bí quyết bảo tồn và tri ân kiến trúc của nước Nga

Đằng sau sự trường tồn của các đô thị biểu tượng của nước Nga qua bao thăng trầm thời đại là một tư duy quy hoạch kiên định: giữ gìn di sản, tôn vinh con người và khéo léo kết hợp dòng chảy quá khứ vào nhịp sống đương đại, là tấm gương phản chiếu trực diện linh hồn của dân tộc.

Hậu trường MV “Lá ngọc cành vàng” của ca nương Kiều Anh. (Ảnh: Antiantiart)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Đòn bẩy phát triển du lịch từ các ngành công nghiệp văn hóa

Từ bộ phim Hộ linh tráng sĩ, đến MV Come My Way hay MV Lá ngọc cành vàng, có thể thấy địa điểm được lựa chọn cho một MV, một bộ phim hay một lễ hội không đơn thuần là câu chuyện của bối cảnh. Đằng sau mỗi lựa chọn không gian là cách một sản phẩm văn hóa được kết nối với một vùng đất và những bản sắc riêng biệt.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Mạch nguồn Kinh Bắc - Vươn cao thời đại”. (Ảnh: VH)

Chương trình nghệ thuật đặc biệt “Mạch nguồn Kinh Bắc - Vươn cao thời đại” chào mừng thành lập thành phố Bắc Ninh

Tối 19/9, tại Quảng trường 3/2, phường Bắc Giang diễn ra chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Mạch nguồn Kinh Bắc - Vươn cao thời đại”, chào mừng Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Bắc Ninh và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

Các đại biểu nghe giới thiệu về cây xanh Hà Nội qua nhiều tư liệu ảnh quý.

Đánh thức trách nhiệm mỗi người về cây xanh Hà Nội

Những bức ảnh về cây xanh Hà Nội qua năm tháng, từ những cây cổ thụ gắn với các di tích lịch sử, những hàng cây đặc trưng cho các con phố hay sự mong manh của cây xanh trong đời sống... không chỉ cho mỗi người cảm nhận về vẻ đẹp, mà còn đánh thức trách nhiệm với cây xanh Hà Nội.

MC Tuấn Tú và Quán quân Thiên An. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Thiên An, Quán quân 5 tuổi của cuộc thi Tìm kiếm Gương mặt MC Nhí Truyền hình mùa 2

Mới 5 tuổi, chưa bước vào lớp 1 nhưng Thiên An đã gây ấn tượng bởi khả năng đọc chữ vanh vách, sự tự tin trên sân khấu và tư duy dẫn dắt tự nhiên. Với phần thi “Nắng nóng: Lời cảnh báo từ thiên nhiên”, cô bé xuất sắc giành ngôi Quán quân MC Nhí Tiếng Việt tại Tìm kiếm Gương mặt MC Nhí Truyền hình mùa 2.