“Những lá thư thời chiến Việt Nam”: Cuốn nhật ký về một thời lửa đạn

Giữa những năm tháng kháng chiến khốc liệt, giữa ranh giới của sự sống và cái chết mong manh, vô vàn lá thư của những người lính Cụ Hồ gửi về hậu phương vẫn đầy ắp niềm tin và ý chí mạnh mẽ nơi chiến trường.
Cuốn sách “Những lá thư thời chiến Việt Nam”.
Cuốn sách “Những lá thư thời chiến Việt Nam”.

Dù chỉ mới ra mắt vào giữa tháng 4, nhưng cuốn sách “Những lá thư thời chiến Việt Nam” được phát hành bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã nhận được nhiều sự quan tâm của độc giả cả nước. Tác phẩm do cựu chiến binh, nhà thơ, nhà báo Đặng Vương Hưng sưu tầm và biên soạn.

Những cứ liệu lịch sử quý giá

Trong thời chiến, hoạt động viết thư được xem là một phần đời sống sinh hoạt của mỗi người lính. Họ viết thư để trải lòng và đối thoại. Gửi lá thư đi, họ khắc khoải mong chúng đến tay người nhận, rồi lại vui mừng tột độ khi nhận được hồi âm. Cả chu trình ấy, họ được sống trong sự đợi chờ và hy vọng.

Cựu chiến binh Đặng Vương Hưng, người chấp bút cho cuốn sách, đã thừa nhận rằng: “Thời ấy, viết thư, gửi thư và nhận thư là nguồn sống, cũng cần như…cơm ăn, nước uống. Thậm chí, có thể nói, người ta dựa vào lá thư như điểm tựa tinh thần để sống và vượt qua sự khốc liệt của chiến tranh”.

“Những lá thư thời chiến Việt Nam” tập hợp hàng trăm bức kỷ vật của các chiến sĩ trong hai cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước. Có khi, đó là những trang viết chan chứa tình thương yêu gửi về cho gia đình, người thân. Có khi, đó là chuyện kể về một trận đối đầu căng thẳng với quân địch. Có khi, đó là tâm sự về những mất mát, đớn đau khi tận mắt chứng kiến đồng đội mình hy sinh. Hay đơn giản chỉ là vài dòng nhật ký thuật lại những ngày “nếm mật nằm gai” trên đường ra trận.

Hơn hai tháng trời hành quân liên miên đuổi giặc, đi cả ngày cả đêm trung bình từ 34-45 cây số (có ngày tới 62 cây số), leo những đèo cao ngút ngàn hàng 20 cây và dưới trời nắng như thiêu người, khát khô cổ không có lấy một giọt nước trong. Có đêm cứ đội mưa mà đi, nước ngấm vào người lạnh thấu xương, vắt bám đầy chân cẳng. Sáng hôm sau trông anh nào cũng như thương binh và con đường đi thấm máu hồng tươi của mọi người…”, trích thư của Thượng tướng Vũ Lăng, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) gửi cho vợ trước chiến dịch Điện Biên Phủ.

Những dòng tâm sự được viết vội trong lúc nghỉ chân giữa những chặng hành quân. Chúng thấm đẫm hiện thực của đời sống chiến đấu. Những hình ảnh, trải nghiệm trong đó được tái hiện chân thật đến nỗi bạn đọc dường như tưởng như mình đang hành quân cùng nhân vật, với lòng quả cảm và quyết tâm cao độ.

Hẳn khi đặt bút viết, ít ai có thể nghĩ, đến một ngày, những lá thư này lại trở thành kỷ vật vô giá. Và hầu hết, chủ nhân của chúng đến nay đã không còn. Thế nhưng, từng dòng nhắn nhủ được viết vội trên trang giấy ố vàng theo tháng năm đã trở thành chứng nhân cho thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc.

“Chính những trang thư, nhật ký, ghi chép tưởng chừng rất đỗi riêng tư này, lại mang đến những thông tin và tư liệu cực kỳ quý báu. Chúng gợi mở biết bao điều về đời sống tinh thần, vật chất và cả văn hoá xã hội trong quá khứ, góp phần lý giải những bí mật của lịch sử, làm cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta tốt đẹp hơn”, ông Đặng Vương Hưng chia sẻ.

Lan tỏa lý tưởng sống cao đẹp

Những lá thư từ hai chiều nỗi nhớ đã trở thành lý tưởng sống của cả một thế hệ cầm súng. Họ thuộc nhiều thành phần khác nhau, đến từ mọi vùng, miền của Tổ quốc. Họ có thể là trí thức, là công nhân, nông dân, hay chỉ là những cô, cậu sinh viên vừa rời khỏi ghế nhà trường. Thậm chí, có cả những lá thư được gửi từ những người ở phía bên kia chiến tuyến.

Các lá thư được cựu chiến binh, nhà thơ, nhà báo Đặng Vương Hưng sưu tầm trong nhiều năm.
Các lá thư được cựu chiến binh, nhà thơ, nhà báo Đặng Vương Hưng sưu tầm trong nhiều năm.

Xuyên suốt nội dung cuốn sách là những cảm xúc chân thực, mộc mạc nhất trong tâm hồn mỗi người lính. Ở đó, có sự phơi phới của niềm lạc quan chiến thắng, có những nỗi nhớ, niềm yêu, nhưng cũng có cả những phút giây buồn thương, đau đớn.

Độc giả Đặng Văn Thắng, cựu chiến binh thuộc Binh chủng Đặc công, cho biết: “Cuốn sách khiến tôi nhớ lại những ngày tháng tham gia chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại mảnh đất này. Thế nhưng, với chúng tôi, việc được cầm súng chiến đấu để bảo vệ tổ quốc mãi mãi là một niềm vinh hạnh lớn lao”.

Lý tưởng của người cầm súng ấy được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Những lá thư thời chiến Việt Nam”. Có lẽ, đó là lý do khiến cuốn sách không chỉ hấp dẫn những cựu chiến binh, người lớn tuổi, mà còn thu hút nhiều bạn trẻ tìm đọc.

Nguyễn Đàm Linh, sinh viên năm nhất, Trường đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ: “Em rất xúc động khi đọc được những lá thư mà các chiến sĩ gửi về cho gia đình trước ngày ra trận. Để có được hòa bình hôm nay, ông cha ta đã đánh đổi cả máu xương của mình. Họ đã sống và chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Cùng chung cảm xúc ấy, Lê An Hải, sinh viên năm nhất, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) bày tỏ, nếu không có những lá thư này thì thế hệ sau như chúng em sẽ ít ai biết được các chiến sĩ ngày ấy đã sống và chiến đấu như thế nào giữa mưa bom bão đạn.

“Cuốn sách cho em cảm nhận được tinh thần kiên cường của một thế hệ hào hùng, đã xếp bút nghiên, lên đường nhập ngũ để bảo vệ đất nước. Đọc sách, em như được tiếp thêm động lực để phấn đấu, cố gắng trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện bản thân hơn nữa”, An Hải cho biết thêm.

Cho đến tận hôm nay, “Những lá thư thời chiến Việt Nam” vẫn vẹn nguyên giá trị về ý chí, nghị lực phi thường và sáng ngời lý tưởng. Đó là những trang viết rất “đời”, sinh động và cuốn hút đến lạ kỳ. Bởi khi đọc lên, ta có thể hình dung ra số phận của từng con người, từng cảnh ngộ, thậm chí là hơi thở của cả thời đại.

Tháng 12/2004, Cuộc vận động sưu tầm và xuất bản bộ sách “Những lá thư và nhật ký thời chiến Việt Nam” được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phát động trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các tác phẩm “Mãi mãi tuổi 20”, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, “Sống để yêu thương và dâng hiến”, “Tài hoa ra trận”, “Trở về trong giấc mơ”,… và gần đây nhất là “Những lá thư thời chiến Việt Nam” là kết quả của cuộc vận động này. Những cuốn sách trên đã và đang được nhiều bạn đọc trên cả nước hưởng ứng nồng nhiệt.

Có thể bạn quan tâm

Sắp diễn ra Ngày hội ngôn ngữ châu Âu 2026 tại Hà Nội

Sắp diễn ra Ngày hội ngôn ngữ châu Âu 2026 tại Hà Nội

Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là nhịp cầu văn hóa bền chặt kết nối các cộng đồng. Với thông điệp đầy cảm hứng “Ngôn ngữ kết nối”, Ngày hội Ngôn ngữ châu Âu 2026 sẽ chính thức khai mạc 26/9 tới đây tại Hà Nội, hứa hẹn một hành trình khám phá đa sắc màu ngay giữa lòng thủ đô.

Ảnh thiết kế có sử dụng AI.

Giữ hồn Việt trong Tết Trung thu thời hiện đại

Trung thu đang cận kề, Hà Nội những ngày này đã rộn ràng sắc màu mùa trăng tháng Tám. Trên phố Lương Văn Can, Hàng Mã..., dòng người tấp nập mua sắm, chụp ảnh giữa những gian hàng ngập tràn đồ chơi và bánh Trung thu.

Tác phẩm nhiếp ảnh ghi lại hình ảnh gia đình người Xơ Đăng chăm sóc sâm Ngọc Linh. (Ảnh KIM LIÊN)

Nhiếp ảnh kể chuyện núi rừng

Ở vùng núi cao tây nam Đà Nẵng, nơi sinh sống từ bao đời của đồng bào: Xơ Đăng, Ca Dong, Mơ Nông, Cơ Tu... nghệ thuật nhiếp ảnh đang được sử dụng như một phương thức kể chuyện về đất và người.

Trẻ em đọc sách tại Bệnh viện Nhi đồng 1, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Phương Huyền)

Mở rộng không gian tiếp cận sách

Bên cạnh đổi mới nội dung, chuyển đổi số, bảo vệ bản quyền, những mô hình đưa sách đến gần cộng đồng đang mở thêm không gian cho văn hóa đọc và đặt ra yêu cầu đổi mới thị trường xuất bản, phát hành Thành phố Hồ Chí Minh để xuất bản từng bước trở thành ngành công nghiệp văn hóa hiện đại.

Nghệ nhân Sầm Văn Đạo hướng dẫn các thành viên Câu lạc bộ Bảo tồn văn hóa dân tộc Cao Lan xã Phú Lương đánh trống sành.

Lan tỏa tình yêu văn hóa dân tộc

Nghệ nhân Sầm Văn Đạo ở thôn Mãn Hóa, xã Phú Lương (Tuyên Quang) đã dành gần 20 năm gìn giữ văn hóa Cao Lan. Từ những giá trị được tiếp nhận trong cộng đồng, anh lặng lẽ học hỏi, sưu tầm và tìm cách trao truyền để những nét văn hóa của dân tộc mình không bị lãng quên theo thời gian.

Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Trần Thanh Lâm và Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam Ngô Phương Lan trao giải nhất cho tác giả Hoàng Hà Lê. (Ảnh: VIỆT HÙNG/MCST)

Trao giải cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay”

Tối 17/9, tại Viện Phim Hà Nội đã diễn ra lễ trao giải cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay” do Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam phối hợp cùng Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám tổ chức.

Khu mộ gạch cổ được phát hiện vào tháng 5 vừa qua, trong quá trình người dân trồng cây tại đường liên thôn thuộc xóm Rú Bụt, xã Kim Liên (Nghệ An). (Ảnh: TH)

Kết quả khai quật mộ gạch cổ ở Nghệ An

Chiều 16/9, Bảo tàng Nghệ An-Xô viết Nghệ Tĩnh phối hợp với Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức hội nghị báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khẩn cấp dấu tích mộ gạch Rú Bụt, xã Kim Liên.

Lễ hội truyền thống làng Ô Trình được tổ chức với quy mô lớn. (Ảnh MAI TÚ)

Rộn ràng lễ hội truyền thống làng Ô Trình

Ngày 16/9, tại cụm di tích lịch sử, văn hóa Đình, Từ, Miếu làng Ô Trình thuộc xã Thái Thụy (tỉnh Hưng Yên) đã diễn ra Lễ hội truyền thống làng Ô Trình. Đây là lễ hội độc đáo của cư dân ven biển, còn bảo tồn vẹn nguyên bản sắc truyền thống.

Nghệ sĩ Ưu tú Phạm Khánh Ngọc trong vai diễn Cio-Cio-San của vở opera "Madama Butterfly" (Ảnh: HBSO)

Nghệ sĩ Ưu tú Phạm Khánh Ngọc: Sự tiếp nối tình yêu nghệ thuật và truyền thống gia đình

Trong hai đêm diễn ra mắt vở opera “Madama Butterfly” của Nhà hát Giao hưởng Nhạc - Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua, Nghệ sĩ Ưu tú Phạm Khánh Ngọc đã có màn trình diễn thăng hoa trong vai nữ chính Cio-Cio-San. Phía sau sự tỏa sáng rực rỡ ấy là quá trình khổ luyện, niềm đam mê và sự đồng hành của truyền thống gia đình.

Quang cảnh tại Lễ tổng kết dự án Trilaf và bàn giao mô hình du lịch cộng đồng bền vững. (Ảnh: PV)

Phát huy giá trị làng nghề nón lá truyền thống Tri Lễ

Nhờ sự tiếp sức từ dự án TRILAF do Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF), Trường đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia hỗ trợ, làng nghề nón lá truyền thống Tri Lễ (xã Dân Hòa, Hà Nội) đang hồi sinh mạnh mẽ khi gắn bảo tồn di sản với mô hình du lịch cộng đồng bền vững, tạo dựng giá trị cho làng nghề nón lá truyền thống Tri Lễ.