Nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển khoa học-công nghệ

Phụ nữ ngày càng thể hiện vai trò và vị thế quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống. Trong khoa học, các nhà khoa học nữ đã và đang khẳng định năng lực, vị thế của mình góp phần xây dựng xã hội tri thức, vì sự tiến bộ quốc gia.

Nghiên cứu giống cây trồng tại Viện Sinh học Nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). (Ảnh: KHÁNH AN)
Nghiên cứu giống cây trồng tại Viện Sinh học Nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam). (Ảnh: KHÁNH AN)

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, các nhà khoa học nữ còn gặp nhiều khó khăn thách thức, cần được nhận diện để kịp thời đưa ra những giải pháp phù hợp, nhằm khuyến khích “một nửa thế giới” đóng góp tích cực hơn vào công tác nghiên cứu, phát triển khoa học-công nghệ, một lĩnh vực mũi nhọn đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm trong kỷ nguyên mới.

Những đóng góp đáng tự hào

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sinh, Viện Sử học (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) nhận định, người phụ nữ làm khoa học, thường sống trong hai thế giới song song: Một thế giới của tri thức, một thế giới của bổn phận. Giữa hai thế giới ấy, họ phải liên tục chuyển vai từ nhà nghiên cứu trở về làm mẹ, làm vợ, làm con trong một nhịp sống không ngừng nghỉ. Mặc dù bị “giằng co” trong nhiều vai trò khác nhau, nhưng số lượng phụ nữ tham gia công tác khoa học không chỉ ở Việt Nam và trên thế giới đang ngày càng nhiều hơn.

Trong một hội thảo gần đây về trí tuệ nhân tạo, một chuyên gia của Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam đã cung cấp số liệu phụ nữ nghiên cứu khoa học ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Thí dụ, tại Đức, có 14% số nhà nghiên cứu khoa học ở nước này là nữ, Liên minh châu Âu có 33%, Nhật Bản là 15% và Hàn Quốc là 18%. Đặc biệt ở một số nước Đông Nam Á, tỷ lệ nhà khoa học nữ trên tổng số các nhà khoa học chiếm khá cao, tới 52% ở Thái Lan và Philippines. Tại Malaysia và Việt Nam, tỷ lệ nữ giới đã xấp xỉ bằng nam giới tham gia vào các hoạt động khoa học.

Nhiều tấm gương nhà khoa học nữ trở thành niềm tự hào của nền khoa học nước nhà, giành nhiều giải thưởng khoa học quan trọng trong nước và nước ngoài. Trong đó đặc biệt phải kể đến là Giải thưởng Kovalevskaia dành cho phụ nữ các nước đang phát triển có đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực khoa học-công nghệ.

Có thể kể tên một số nhà khoa học nữ tiêu biểu như Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tân (Đại học Bách khoa Hà Nội) với những cống hiến giúp nâng tầm nông sản Việt Nam; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) nổi tiếng với công trình nghiên cứu về lai tạo giống lúa, nhất là lúa lai. Phó Giáo sư Hồ Thanh Vân (Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh) tốp 23/100 nhà khoa học tiêu biểu năm 2000 do tạp chí Asian Scientist bình chọn, Giáo sư Nguyễn Thục Quyên, nhà nghiên cứu khoa học vật liệu được trích dẫn nhiều nhất thế giới, một trong những phụ nữ Việt Nam đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm kỹ thuật Mỹ…

Và còn rất nhiều những cái tên nhà khoa học nữ xuất sắc, như những bông hoa đẹp làm nên hương sắc của khu vườn khoa học nước nhà.

Tại hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 13/1/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta phải coi khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt”. Như vậy, trong thời đại tri thức, không thể bỏ quên một nửa trí tuệ của nhân loại, đó là phụ nữ, trong đó có rất nhiều người tài đang “chờ được mở lối”.

Khó khăn, thách thức và giải pháp

Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga, Phó Giám đốc Chi nhánh Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, trong nghiên cứu khoa học, phụ nữ hiện vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn so với nam giới. Đầu tiên là rào cản văn hóa xã hội truyền thống. Quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn phổ biến trong cộng đồng khiến phụ nữ mất đi cơ hội phát triển. Việc cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình luôn là thách thức không dễ giải quyết của nhà khoa học nữ.

Các chính sách đãi ngộ cho nhà khoa học nữ còn nhiều hạn chế, trong khi phụ nữ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt về thời gian, sản phẩm nghiên cứu trong thời đại công nghệ. Những yếu tố này giải thích vì sao tỷ lệ phụ nữ tham gia nghiên cứu khoa học cao, gần như ngang bằng với nam giới, nhưng số lượng sản phẩm, công trình nghiên cứu lại thấp hơn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An (Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương) nêu một thực tế chị gặp phải trong khi đi điền dã địa phương thu thập tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu. Đó là, nhiều di tích văn hóa vẫn còn kiêng kỵ không cho phụ nữ bước vào một số khu vực linh thiêng, như hậu cung đình làng, khu thờ chính trong đền, hay các khu vực cấm trong lăng mộ. Dù các nhà nghiên cứu mang theo giấy giới thiệu, thiết bị nghiên cứu rõ ràng nhưng không ít lần đã bị từ chối vào bên trong khu thờ, hoặc buộc phải “đứng nhìn từ xa” vì… là nữ. Những quan niệm cổ như “phụ nữ có âm khí”, “đền thiêng không cho đàn bà vào” vẫn tồn tại gây khó khăn cho nhà khoa học nữ.

Công tác đào tạo nhà khoa học nữ cũng đang mất cân bằng ở chỗ, số lượng nhà khoa học nữ là con em các vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay mới chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Thiếu cơ chế phát hiện và bồi dưỡng sớm, thiếu hình mẫu truyền cảm hứng và hệ sinh thái học thuật hỗ trợ chúng ta đang “bỏ lỡ” nhiều nhân lực nghiên cứu tiềm năng.

Muốn phát triển đội ngũ nhà khoa học nữ chất lượng, cần có những chính sách khuyến khích riêng và đặc thù. Một số chuyên gia đề xuất nên phát triển Quỹ Khoa học Công nghệ dành cho nhà khoa học nữ. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sinh nhận định, trong các giải thưởng khoa học-công nghệ tầm quốc gia như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, số lượng nhà khoa học nữ đoạt giải vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Do vậy, cần đa dạng hóa hình thức ghi nhận, thiết kế giải thưởng chuyên biệt dành cho nữ giới, nhằm tôn vinh nỗ lực vượt qua rào cản kép giữa công việc và gia đình của nữ giới. Nên quy định tỷ lệ tối thiểu đề tài do nữ chủ trì, hình thành quỹ hỗ trợ quay lại học thuật (reentry grants) cho các nhà khoa học nữ sau thời gian nghỉ sinh con. Cần xây dựng thể chế và môi trường nghiên cứu nhân văn để phụ nữ có thể vừa hoàn thành công việc gia đình, vừa sáng tạo.

Tiến sĩ Rơ-Đăm Thị Bích Ngọc, Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, đã đến lúc cần đặt vấn đề phát triển đội ngũ nhà khoa học nữ, đặc biệt là con em đồng bào dân tộc thiểu số, như một nhiệm vụ chiến lược trong phát triển nhân lực quốc gia. Cần xây dựng chính sách học bổng và chương trình phát hiện tài năng nữ từ sớm, ưu tiên học sinh nữ vùng khó khăn, giúp họ tiếp cận môi trường đào tạo tốt hơn trong các ngành khoa học-công nghệ, kỹ thuật, toán học (STEM).

Có cơ chế “đỡ đầu” ở cấp đại học và sau đại học để định hướng nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp. Tăng cường truyền thông gương các nữ trí thức dân tộc thiểu số, để họ trở thành hình mẫu lan tỏa, khích lệ các thế hệ sau. Khi một cô gái người Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, H'Mông, Dao hay Ê Đê... có thể trở thành nhà khoa học, họ không chỉ mang tri thức về cho cộng đồng, mà còn là minh chứng sống cho sức mạnh của giáo dục và bình đẳng giới. Bồi dưỡng những người phụ nữ ấy chính là đầu tư cho sự bền vững của vùng, miền và của cả quốc gia, nơi khoa học không chỉ là tri thức, mà còn là con đường mở ra tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Xã vùng cao Avương. (Ảnh: THANH TÂM)

Đà Nẵng: Đột phá chuyển đổi số ở xã vùng cao Avương

Nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số đã được Ban Thường vụ Đảng ủy và Ban Chỉ đạo 57 xã Avương (thành phố Đà Nẵng) triển khai đồng bộ, mang lại những chuyển biến rõ nét, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ nhân dân.

VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên điện thoại và máy tính, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu. (Ảnh: VNPT)

Gỡ “điểm nghẽn chờ ký” với VNPT SmartCA

Chữ ký số đã quen thuộc với doanh nghiệp, nhưng khi công việc không còn bó hẹp trong văn phòng, USB Token hay máy tính cố định lại trở thành giới hạn. Ký số từ xa đang thay đổi cách doanh nghiệp xử lý giao dịch điện tử, với VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên môi trường số, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu.

Gian hàng giới thiệu về chip bán dẫn tại một sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Thu Hằng)

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong thiết kế chip bán dẫn

Công nghiệp bán dẫn Việt Nam đang mở rộng từ nghiên cứu, thiết kế sang đóng gói, kiểm thử và từng bước hình thành năng lực chế tạo chip trong nước. Do đó, bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo nền tảng cho thương mại hóa và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đoàn công tác hai bên làm việc, trao đổi về thúc đẩy chuyển đổi số. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Thúc đẩy hợp tác về chuyển đổi số Việt Nam và Pháp

Trong các ngày từ 5 đến 9/10, Cục Chuyển đổi số (Văn phòng Chính phủ) thực hiện chương trình làm việc với đoàn chuyên gia Cộng hòa Pháp về nội dung hợp tác, trao đổi trọng tâm về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khu vực công, quản trị dữ liệu công, phát triển kinh tế dữ liệu và hoàn thiện khung pháp lý số.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực cho Đắk Lắk bứt phá vươn lên trong giai đoạn mới

Hội thảo nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị gắn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh giai đoạn 2026-2030.

Nền tảng kết nối đổi mới sáng tạo ISC kết nối mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, startup, quỹ đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế. (Ảnh QUANG HUY)

Mở rộng không gian kết nối công nghệ và doanh nghiệp

Ngày 5/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đã diễn ra Hội thảo “Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI) và Tự động hóa trong kỷ nguyên số”. Chương trình do Trung tâm Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo, Cục Đổi mới Sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) phát biểu tại lễ trao giải. (Ảnh: MH)

Trao giải Better Choice Awards 2026 vinh danh sản phẩm, giải pháp, thương hiệu đổi mới sáng tạo

Tối 4/10, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Gala trao giải Better Choice Awards 2026 đã vinh danh 45 hạng mục thuộc 4 trục giải thưởng, từ những giải pháp trí tuệ nhân tạo do người Việt làm chủ, những doanh nghiệp kiến tạo nền tảng quốc gia, tới các sản phẩm công nghệ và mẫu xe thay đổi đời sống người tiêu dùng.

Các diễn giả chia sẻ tại phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Tạo cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Chiều 4/10, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026 nhằm tăng cường kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và Trường đại học trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Ông Nguyễn Võ Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đổi mới sáng tạo chia sẻ tại Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cho Việt Nam

Tại Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo 2026 diễn ra chiều 4/10, một vấn đề được nhiều doanh nghiệp, nhà quản lý quan tâm là phân tích các xu hướng công nghệ mới và cơ hội cho Việt Nam. Các phân tích cho rằng, việc lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cần phù hợp với nguồn lực, nhu cầu và có chính sách hỗ trợ tương ứng.