Nâng cao chất lượng cảnh báo, dự báo thiên tai

Với hệ thống quan trắc được đầu tư khá đồng bộ, thời gian qua, công tác khí tượng thủy văn (KTTV) ở nước ta từng bước nâng cao độ chính xác, tin cậy trong các cảnh báo về thiên tai, nhất là trong dự báo, cảnh báo bão, mưa lớn, lũ lụt… Kết quả công tác KTTV dần đáp ứng được yêu cầu phòng, chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

 Hệ thống ra-đa thời tiết tại Quy Nhơn phục vụ quan trắc bão cho khu vực Nam Trung Bộ.
Hệ thống ra-đa thời tiết tại Quy Nhơn phục vụ quan trắc bão cho khu vực Nam Trung Bộ.

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, lượng nước lũ chiếm tới từ 70% đến 80% lượng nước. Do ảnh hưởng của gió mùa và sự phức tạp về địa hình cho nên Việt Nam thường chịu tác động mạnh về thời tiết như bão, lụt, hạn hán...

Theo Tổng cục trưởng KTTV (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Trần Hồng Thái: Trong những năm qua, Tổng cục KTTV đã đưa vào sử dụng hệ thống 10 trạm ra-đa, sáu trạm thám không vô tuyến; 18 trạm phát hiện giông sét trong mạng lưới định vi sét toàn cầu. Bên cạnh đó, hệ thống quan trắc KTTV được đầu tư xây dựng, với hơn 1.450 trạm/điểm, bao gồm các trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, đo mưa tự động, hải văn. Tổng cục cũng duy trì, phát triển và hiện đại hệ thống thông tin và dữ liệu KTTV như các hệ thống truyền tin chuyên ngành, hệ thống tính toán và lưu trữ quản lý dữ liệu quan trắc nhằm cung cấp kịp thời số liệu thời gian phục vụ cho công tác dự báo và truyền tin phục vụ cộng đồng xã hội. Qua đó, góp phần đáp ứng được những yêu cầu của công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Ðiển hình như việc dự báo, cảnh báo mưa lớn trước đến ba ngày với độ tin cậy khoảng 75%; dự báo, cảnh báo trước rét đậm, rét hại gây ra bởi không khí lạnh từ hai đến ba ngày với độ tin cậy từ 80% đến 90%; dự báo, cảnh báo lũ trên các sông khu vực miền trung, Tây Nguyên trước từ 24 giờ đến 48 giờ, khu vực Bắc Bộ trước từ ba đến năm ngày với độ tin cậy từ 70% đến 85%...

Tuy nhiên, với mạng lưới hơn 1.450 trạm, điểm quan trắc KTTV so với quy hoạch giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến 2030, là 5.515 trạm, thì mới đáp ứng được khoảng 27%. Hệ thống trạm KTTV hiện có rất thưa. Một trạm khí tượng chỉ có thể quan trắc được những gì xảy ra chung quanh bầu trời bán kính từ 10 đến 20 km trong khi ở nhiều nơi, các trạm cách nhau từ 50 km đến 100 km. Nhiều nơi, thiết bị đo phục vụ cho quan trắc chủ yếu vẫn là thủ công, thiết bị quan trắc tự động chưa được trang bị nhiều cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác dự báo. Ngoài ra, nguồn kinh phí đầu tư cho mạng lưới quan trắc còn nhiều hạn chế; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định, quy trình kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn về quan trắc KTTV còn chồng chéo, thiếu đồng bộ…

Để từng bước khắc phục những khó khăn, bất cập các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực này cho rằng: Bộ Tài nguyên và Môi trường cần hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách phục vụ cho hoạt động KTTV. Có chính sách khuyến khích, xã hội hóa tạo cơ sở phát triển thị trường dịch vụ, tiến tới xây dựng nền công nghiệp KTTV ở nước ta. Tăng cường giám sát, quản lý thông tin, dữ liệu, số hóa và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu KTTV quốc gia tập trung, đồng bộ, hiện đại; nhất là sử dụng các công nghệ dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các kiến trúc của khoa học công nghệ 4.0 để quản lý, khai thác, chia sẻ và thực hiện các dịch vụ KTTV. Bố trí đủ nguồn lực cho các hoạt động KTTV quan trọng, trong đó ưu tiên đẩy nhanh tiến độ tự động hóa mạng lưới quan trắc KTTV quốc gia. Tăng mật độ trạm đo, điểm đo ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, kiện toàn hệ thống ra-đa thời tiết theo quy hoạch để nâng cao chất lượng dự báo, gồm cả dự báo tác động, rủi ro thiên tai, cảnh báo sớm... Ðẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo lại, nhằm nâng cao nghiệp vụ, tay nghề cho đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên và quan trắc viên hiện có. Ðầu tư xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, phát triển công nghệ dự báo số, tiên tiến. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần triển khai xây dựng Ðề án cấp quốc gia về khoa học công nghệ; tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về KTTV, nhất là tranh thủ sự phối hợp, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Khí tượng thế giới, Ủy ban Bão quốc tế và các nước tiên tiến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành. Ðồng thời, huy động tối đa các nguồn vốn từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các dự án, các doanh nghiệp để nâng cấp và đầu tư mới cho mạng lưới quan trắc trên cả nước một cách hiệu quả và bền vững...

Có thể bạn quan tâm

Chân dung hai nhà khoa học Henri Kagan và Kenso Soai. (Ảnh minh họa: Nobelprize.org)

Nobel Hóa học 2026 vinh danh nghiên cứu về hiệu ứng phi tuyến tính và tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã công bố giải Nobel Hóa học năm 2026 thuộc về nhà khoa học Henri Kagan (Đại học Paris-Sud, Pháp) và nhà khoa học Kenso Soai (Đại học Khoa học Tokyo, Nhật Bản) với công trình nghiên cứu về các hiệu ứng phi tuyến tính và tự xúc tác trong tổng hợp hữu cơ bất đối xứng.

Xã vùng cao Avương. (Ảnh: THANH TÂM)

Đà Nẵng: Đột phá chuyển đổi số ở xã vùng cao Avương

Nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số đã được Ban Thường vụ Đảng ủy và Ban Chỉ đạo 57 xã Avương (thành phố Đà Nẵng) triển khai đồng bộ, mang lại những chuyển biến rõ nét, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ nhân dân.

VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên điện thoại và máy tính, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu. (Ảnh: VNPT)

Gỡ “điểm nghẽn chờ ký” với VNPT SmartCA

Chữ ký số đã quen thuộc với doanh nghiệp, nhưng khi công việc không còn bó hẹp trong văn phòng, USB Token hay máy tính cố định lại trở thành giới hạn. Ký số từ xa đang thay đổi cách doanh nghiệp xử lý giao dịch điện tử, với VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên môi trường số, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu.

Gian hàng giới thiệu về chip bán dẫn tại một sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Thu Hằng)

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong thiết kế chip bán dẫn

Công nghiệp bán dẫn Việt Nam đang mở rộng từ nghiên cứu, thiết kế sang đóng gói, kiểm thử và từng bước hình thành năng lực chế tạo chip trong nước. Do đó, bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo nền tảng cho thương mại hóa và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đoàn công tác hai bên làm việc, trao đổi về thúc đẩy chuyển đổi số. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Thúc đẩy hợp tác về chuyển đổi số Việt Nam và Pháp

Trong các ngày từ 5 đến 9/10, Cục Chuyển đổi số (Văn phòng Chính phủ) thực hiện chương trình làm việc với đoàn chuyên gia Cộng hòa Pháp về nội dung hợp tác, trao đổi trọng tâm về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khu vực công, quản trị dữ liệu công, phát triển kinh tế dữ liệu và hoàn thiện khung pháp lý số.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực cho Đắk Lắk bứt phá vươn lên trong giai đoạn mới

Hội thảo nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị gắn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh giai đoạn 2026-2030.

Nền tảng kết nối đổi mới sáng tạo ISC kết nối mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, startup, quỹ đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế. (Ảnh QUANG HUY)

Mở rộng không gian kết nối công nghệ và doanh nghiệp

Ngày 5/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đã diễn ra Hội thảo “Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI) và Tự động hóa trong kỷ nguyên số”. Chương trình do Trung tâm Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo, Cục Đổi mới Sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.