Mỏi mòn chờ danh hiệu Nghệ nhân dân gian cấp Nhà nước

NDĐT – Hầu hết những người nắm giữ toàn bộ kỹ năng và vốn liếng di sản văn hóa dân gian đều đã ở tuổi “gần đất xa trời”. Trong khi đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vẫn đang chờ ý kiến phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Thông tư quy định xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú.

Tuổi không thể đợi danh

Thông tin mới và cũng xót xa nhất: cụ bà Nguyễn Thị Kim, 89 tuổi, ca nương cuối cùng của dòng họ hát ca trù Nguyễn Thế ở Nông Cống, Thanh Hoá vừa được Hội Văn nghệ dân gian trao bằng chứng nhận danh hiệu nghệ nhân tuần trước, trong khi bà đã lặng lẽ mất tự khi nào.

Bà là một trong ba giọng hát được Viện Âm nhạc ghi âm gửi sang Pháp phân tích nghiên cứu khi chuẩn bị làm hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận ca trù là Di sản nhân loại. Đi hát từ năm 12 tuổi, bà là người duy nhất của thế hệ ca nương thời trước ở Thanh Hoá còn nhớ nằm lòng hàng chục làn điệu và thể cách của ca trù.

Trong số 11 người đàn hát ca trù được Hội Văn nghệ dân gian trao bằng chứng nhận Nghệ nhân dân gian tại lễ bế mạc Liên hoan ca trù toàn quốc tối 16-10 vừa qua, có chín nghệ nhân già được tôn vinh, chỉ năm người đủ sức đến được tận nơi để nhận. Các cụ ông, cụ bà lẩy bẩy lên sân khấu phải có người dìu, tay run lập cập không đỡ nổi tấm bằng chứng nhận và bó hoa mà đại diện Ban tổ chức trao. Tuy vậy, đối với họ đó là niềm vui, niềm tự hào mà họ chờ đợi cả đời.

Cụ Nguyễn Thị Sinh, 90 tuổi, mặc dù mấy ngày theo Liên hoan về bị sốt nằm không dậy được, nhưng khi hỏi về tấm bằng chứng nhận, cụ vẫn cười móm mém: “Cả đời chưa được ai công nhận gì cả, bây giờ có tấm bằng này, vui lắm, nhắm mắt cũng được rồi”.

Cụ Sinh, cùng với các cụ Đỗ Thị Khuê (Mễ Trì), Đỗ Thị Sông (ca trù Lỗ Khê) và cụ Vũ Văn Hồng (Mỹ Đình) còn may mắn bởi được nghệ sĩ Bạch Vân đến tận nhà đón lên nhận tấm bằng, và ít nhất họ còn chút sức khoẻ để đi.

Trong danh sách phong tặng lần này, cụ bà Đỗ Thị Dị, sinh năm 1912, chẳng nói ra thì ai cũng biết ở tuổi ấy không thể từ Lập Thạch, Vĩnh Phúc xuống Hà Nội được nữa. Có tên trong danh sách phong tặng các nghệ nhân ca trù lần này, hầu hết là những cụ bà ở tuổi “gần đất xa trời” như thế: cụ Phan Thị Duyệt (91 tuổi- Vĩnh Phúc), Nguyễn Thị Thiệp (83 tuổi-Bắc Ninh), Đặng Thị Thục (86 tuổi-Vĩnh Phúc). Mấy năm trước các cụ còn hát được chứ bây giờ thì sức khoẻ yếu không còn đi đâu được nữa.

Tên của cụ Kim vẫn được xướng lên trên sân khấu và chẳng ai nói rằng, cụ đã không còn nữa, bằng chứng nhận này là... truy tặng.

Không cứ nghệ nhân là phải... già

Ở lần trao bằng chứng nhận “đột xuất " riêng đối với ca trù này của Hội Văn nghệ dân gian, có hai nghệ nhân trẻ tuổi, đó là chị Dương Thị Xanh (sinh năm 1975) và chị Đặng Thuỳ Vân (sinh năm 1970) ở Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. GS.TSKH Tô Ngọc Thanh cho biết: “Cứ có hồ sơ địa phương gửi lên mà xem xét thấy đủ tiêu chí là chúng tôi công nhận. Các nghệ nhân bây giờ phần lớn đều đã quá già, không thể ngồi đợi hàng năm nữa. Chúng tôi cũng không đợi các nghệ nhân lớn tuổi mới công nhận. Như hai nghệ nhân ca trù Cổ Đạm vừa rồi, mặc dù tuổi còn trẻ, nhưng có hồ sơ và xét thấy đủ tiêu chí là công nhận, không phải cứ nghệ nhân là phải chờ đến già”.

20406.jpg

Các cụ già phải có người dìu khi đi nhận bằng chứng nhận danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Danh hiệu nghệ nhân dân gian trao cho những người nắm giữ, trình diễn và truyền dạy di sản văn hóa truyền thống không phải là việc bây giờ mới đặt ra. Từ năm 2002, Hội Văn nghệ Dân gian đã bắt đầu tiến hành phong tặng, và cho đến nay, đã có hơn 200 người được công nhận là Nghệ nhân dân gian. Trong số đó, hơn 100 nghệ nhân đã được tập hợp đầy đủ sơ cá nhân in trong hai tập sách bằng hai thứ tiếng Việt – Anh và gửi đến UNESCO.

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh cũng cho biết, Hội đã khảo sát, thống kê đầy đủ các loại hình di sản văn hóa phi vật thể của 46 dân tộc trên cả nước, trong đó có phần tên tuổi nghệ nhân nắm giữ vốn liếng và kỹ năng trình diễn, truyền dạy. Mặc dù chưa thể có kinh phí để thống kê đầy đủ và chính xác nghệ nhân của tất cả các loại hình di sản văn hoá phi vật thể toàn quốc, nhưng về cơ bản mỗi loại hình đều có hồ sơ đầy đủ về con người nắm giữ di sản. Vì vậy, chỉ cần địa phương gửi hồ sơ về, thẩm định đủ tiêu chí là Hội tiến hành công nhận. Công tác phong tặng ấy mười năm nay vẫn đang được Hội Văn nghệ dân gian tiến hành một cách cẩn trọng và gấp rút.

Tuy vậy, với nỗ lực của Hội, thì những nghệ nhân- “báu vật nhân văn sống” dù được công nhận về danh hiệu, nhưng lại không có nguồn kinh phí để tiến hành chế độ đãi ngộ xứng đáng.

Sau tấm bằng chứng nhận, mỗi nghệ nhân chỉ được năm trăm nghìn đồng (năm nay Hội bỏ thêm kinh phí lên được 1,2 triệu), rồi “đâu vẫn vào đấy”, không có nguồn kinh phí nào để nuôi dưỡng, chăm sóc và trả thù lao để họ lưu giữ và trao truyền di sản cho thế hệ tiếp nối. Trong khi phần lớn nghệ nhân đều tuổi cao, sức yếu và sống trong cảnh khó khăn.

Chờ đợi cấp cao hơn?

Đầu năm nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến đề xuất ban hành Thông tư quy định về việc xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú.

Cùng với một quy chế riêng để xét hồ sơ phong tặng, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng đưa ra dự thảo về chế độ cho nghệ nhân. Theo điều 2, chương 1 Dự thảo Thông tư quy định về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng danh hiệu NNND và NNƯT quy định quyền lợi người được phong tặng thì bên cạnh Huy hiệu, Bằng chứng nhận do Chủ tịch nước ký tặng, Nghệ nhân nhân dân sẽ được hưởng số tiền 12,5 lần mức lương tối thiểu chung và Nghệ nhân ưu tú hưởng 9,0 lần. Ngoài ra, các nghệ nhân được phong tặng danh hiệu sẽ được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ thăm nom, quyền lợi tham gia hội đồng liên quan nghề nghiệp.

Cũng theo Thông tư, việc xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú được thực hiện theo hai cấp: cấp tỉnh và cấp Nhà nước, sẽ được tiến hành hai năm một lần vào dịp Quốc khánh 2-9 và sẽ công bố đợt đầu tiên vào năm 2011. Những thông tin này đã được nhiều người chờ đợi, bởi lần đầu tiên, các nghệ nhân sẽ được Nhà nước công nhận và vinh danh cùng chế độ đãi ngộ xứng đáng, quả là một tin vui.

Tuy vậy, sau khi lấy ý kiến các cấp, ngành, dự thảo vẫn còn nhiều điều bàn cãi, và chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân sau khi được vinh danh vẫn là bài toán chưa có lời giải cuối cùng.

Trong khi đó, mọi văn bản về quy trình, thủ tục vẫn đang ở trong giai đoạn trình Chính phủ phê duyệt. TS. Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản cho biết, còn nhiều vướng mắc trong đề án phong tặng và ban hành chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân cho đến nay vẫn chưa giải quyết được.

Được biết, ngoài Hội Văn nghệ dân gian, thì Bộ Công thương cũng đã tiến hành xét tặng danh hiệu cho nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực nghề thủ công truyền thống từ năm 2005. Vì vậy, quy trình xét tặng mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra có nhiều chồng chéo và trùng lắp, cần một cơ quan nắm đầu mối và phối hợp thực hiện.

Loay hoay văn bản, năm 2011 đã sắp hết, Thông tư vẫn chưa được ban hành, trong khi đó, các nghệ nhân cao tuổi đang ngày một rơi rụng.

Chờ cho đến khi được tôn vinh bằng một danh hiệu cấp Nhà nước, có lẽ không ít cụ phải “ngậm cười” như trường hợp cụ Kim?

Khi ấy, mọi chế độ đãi ngộ với những “báu vật nhân văn sống” này, liệu còn có ích gì?

Có thể bạn quan tâm

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Đổi mới cơ chế đặt hàng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển, đưa công nghiệp văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa, cơ chế đặt hàng cần thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy đầu tư cho tác phẩm sang đầu tư cho tài sản văn hóa.

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày diễn văn kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)

Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn (tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng tỉnh Hưng Yên tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Chiều 30/7, tại Hà Nội, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Cục Bản quyền tác giả Nhật Bản tổ chức Hội thảo về thực thi bản quyền trên môi trường số, quy tụ đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức thực thi quyền tác giả, doanh nghiệp và chuyên gia hai nước.

Cuốn sách "Huyền thoại tàu không số" của tác giả Đình Kính kể lại lịch sử bằng chính dòng chảy ký ức của những người đã trực tiếp sống, chiến đấu làm nên huyền thoại.

Huyền thoại tàu không số: Bản hùng ca bất tử trên biển

Khác với những cuốn sách lịch sử thường tập trung vào sự kiện và mốc thời gian, những chiến công, "Huyền thoại tàu không số" của nhà văn Đình Kính chọn cách tiếp cận độc đáo kể lại lịch sử bằng chính dòng chảy ký ức của những người đã trực tiếp sống, chiến đấu làm nên huyền thoại.

Sự trở lại của "Hồ Thiên Nga" với phiên bản đầy đủ và hoàn chỉnh hứa hẹn mang đến những trải nghiệm nghệ thuật đặc biệt cho khán giả.

Sự trở lại ấn tượng của kiệt tác vũ kịch "Hồ Thiên Nga"

Sau thời gian dài mong đợi, phiên bản đầy đủ và hoàn chỉnh của kiệt tác vũ kịch vượt thời gian "Hồ Thiên Nga" sẽ được Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh (HBSO) giới thiệu tới khán giả vào tháng 8/2026, với sự kết hợp đỉnh cao giữa vũ kịch và dàn nhạc giao hưởng trực tiếp.

Công nghệ chiếu sáng AGS ứng dụng vào đại cảnh đèn kéo quân khổng lồ với những họa tiết tranh dân gian trong không gian lễ hội ở Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2026.

Số hóa tư liệu văn hóa dân gian

Văn hóa dân gian là hệ thống tri thức có nội hàm rộng lớn, bao gồm nhiều loại hình như văn học dân gian, các tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, nghệ thuật dân gian… do cộng đồng sáng tạo và thực hành qua nhiều thế hệ, lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng. 

Các nghệ nhân trà trình diễn nghệ thuật pha trà tại sự kiện. (Ảnh: VCCA)

Hình thành mạng lưới kết nối, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trà Việt Nam

Việc đồng thời ra mắt Liên chi hội văn hóa trà Việt Nam, Chi hội văn hóa trà Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng tạo nên một hệ thống liên kết từ cấp quốc gia đến địa phương, định hướng xây dựng một mạng lưới văn hóa trà có tính liên vùng, từng bước mở rộng đến các địa phương và vùng chè tiêu biểu trên cả nước.

Không gian lớp học ca trù tại Bích Câu Đạo Quán. (Ảnh: TRANG ANH)

Giữ nhịp ca trù giữa lòng Hà Nội

Suốt 18 năm qua, lớp học ca trù miễn phí vẫn được vợ chồng Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Vân Mai bền bỉ duy trì, như dòng chảy lặng lẽ góp phần nuôi dưỡng di sản.

Sinh viên Trường đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội trong giờ học hóa trang.

Hậu trường sân khấu và nỗi lo thế hệ kế cận

Cùng với nghệ sĩ biểu diễn, những người làm công việc phía sau sân khấu là lực lượng không thể thiếu để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nhân lực kế cận ở các vị trí này đang đặt ra nhiều thách thức cho các đơn vị nghệ thuật.