Tuy nhiên, việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và liên kết chưa chặt chẽ khiến cho các loại trái cây đặc sản của địa phương thường xuyên gặp cảnh “được mùa, mất giá”, “được giá, mất mùa”.
Nguồn nông sản dồi dào
Tỉnh Đồng Tháp hiện có hơn 135.000 ha cây ăn trái, sản lượng khoảng 2,5 triệu tấn/năm; trong đó gần 2.500 ha được chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, an toàn thực phẩm. Diện tích sản xuất theo hướng hữu cơ và tiêu chuẩn hữu cơ đạt khoảng 8.400 ha. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp, tỉnh có gần 1.200 vùng trồng cây ăn trái, với trên 2.700 mã số, diện tích 51.200 ha; gần 500 mã số cơ sở đóng gói (308 cơ sở đang hoạt động).
Ông Nguyễn Thanh Thảo, Ấp 5, xã Mỹ Thành (Đồng Tháp), cho biết: “Trước thực trạng ngành hàng sầu riêng gặp khó trong xuất khẩu, giá bán thấp, tôi cùng những nông dân khác liên kết thành lập tổ hợp tác sản xuất sầu riêng Mỹ Thành. Tổ hợp tác tập hợp những nông dân trồng sầu riêng trong vùng, sản xuất cùng quy trình, sản phẩm không nhiễm cadimi, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu. Đến nay, địa phương đã tập hợp được 28 người, với diện tích 25 ha và đang hoàn chỉnh thủ tục để ra mắt tổ hợp tác này”.
Hiện, Đồng Tháp có hơn 130 hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ trái cây tham gia liên kết với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Mỹ Lợi A, xã Mỹ Lợi (Đồng Tháp) Ngô Văn Bé Em cho biết: Hợp tác xã có gần 300 thành viên, với diện tích sản xuất cây ăn trái trên 270 ha. Từ đầu năm 2023 đến nay, đơn vị đã ký kết hợp đồng hằng năm với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm trái cây như xoài, vú sữa, sầu riêng, mít, ổi..., sản lượng 25-30 tấn/tháng. Hiện, diện tích của hợp tác xã sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là 26,5 ha, sản xuất an toàn có mã vùng trồng gần 250 ha. Thời gian qua, hợp tác xã đã khẳng định vai trò đầu mối liên kết, hỗ trợ thành viên từ khâu đầu vào đến đầu ra cho sản phẩm; chủ động liên kết với doanh nghiệp, thương lái, siêu thị và các kênh phân phối để tiêu thụ trái cây cho thành viên thông qua hợp đồng bao tiêu; từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, tham gia các hội chợ, sự kiện xúc tiến thương mại.
Tỉnh Đồng Tháp đã dần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng khoa học-kỹ thuật, công nghệ cao trong sản xuất cây ăn trái gồm: hệ thống tưới tiêu tự động, áp dụng cơ giới hóa, điều khiển ra hoa rải vụ, áp dụng bao trái, quy trình canh tác an toàn, hữu cơ, ứng dụng chế phẩm vi sinh, sinh học; giảm phát thải, nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Đồng bộ nhiều giải pháp
Khó khăn của ngành hàng trái cây tỉnh Đồng Tháp chủ yếu nằm ở phát triển chuỗi giá trị như: Chất lượng vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn thị trường chưa đồng đều; liên kết chuỗi còn thiếu bền vững, thiếu doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị; chế biến, bảo quản sau thu hoạch và logistics lạnh còn hạn chế; năng lực chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao còn chậm.
Phó Tổng Thư ký Hiệp hội rau quả Việt Nam (Vinafruit) Nguyễn Văn Mười cho rằng: Để tối ưu hóa lợi ích cho doanh nghiệp, nông dân và các bên liên quan, doanh nghiệp cần xác định mức giá sàn cố định để bảo vệ nông dân khi thị trường lao dốc. Nông dân có quy mô sản xuất nhỏ nên chủ động liên kết với nhau. Doanh nghiệp cần đầu tư trung tâm sơ chế, đóng gói và kho lạnh tại vùng nguyên liệu để hỗ trợ kết nối, có chính sách ưu đãi phí lưu kho, dịch vụ logistics nhằm giảm chi phí vận chuyển. Nhà nước có cơ chế, chính sách khuyến khích về đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản, cơ giới hóa sản xuất.
Theo Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Trần Quốc Toản, Đồng Tháp cần chủ động xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản phù hợp với lợi thế của tỉnh; tổ chức lại sản xuất theo tín hiệu thị trường. Đối với các ngành hàng có lợi thế xuất khẩu lớn, tỉnh cần tập trung chuẩn hóa vùng trồng, kiểm soát chất lượng và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo Sở Công thương tỉnh Đồng Tháp, để phát triển ngành hàng trái cây theo hướng hiện đại, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh, tỉnh sẽ xây dựng vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, chất lượng; nâng chất lượng quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp hữu cơ; thúc đẩy liên kết chuỗi, phát triển doanh nghiệp đầu mối; phát triển chế biến, logistics và thương mại hóa sản phẩm.