70 NĂM HÀNH TRÌNH GIỮ BIỂN CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG

Kỳ 1: Hải quân nhân dân Việt Nam ra đời, xây dựng và phát triển trong điều kiện hòa bình

Để bảo vệ, giữ vững trật tự an ninh trên các vùng duyên hải, chống mọi hoạt động của bọn hải phỉ, biệt kích, đặc vụ, bảo đảm an toàn cho nhân dân đi lại làm ăn trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, ngày 26/4/1955, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trường Huấn luyện bờ bể (phiên hiệu C45) và Xưởng sửa chữa tàu thuyền (phiên hiệu C46), là hai cơ sở bảo đảm về kỹ thuật hải quân và đào tạo cán bộ của Cục Phòng thủ bờ bể sẽ ra đời sau đó.

Ngày 7/5/1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ bể, là “cơ quan giúp Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các lực lượng phòng thủ bờ bể, tổ chức đào tạo cán bộ, nhân viên thủy thủ; sản xuất, sửa chữa dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội để bàn giao cho các khu và liên khu làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên các vùng sông, biển”. Ngày 7/5/1955 trở thành mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 24/8/1955, Cục tổ chức trọng thể Lễ thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng tại Trường Huấn luyện bờ bể, bên bờ sông Cấm, thành phố Hải Phòng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh và đồng chí Đỗ Mười, Chủ tịch Ủy ban quân chính thành phố Hải Phòng, cùng đông đảo cán bộ, chiến sĩ Cục Phòng thủ bờ bể và nhân dân thành phố Hải Phòng đã chứng kiến buổi ra mắt của hai thủy đội. Đây là những viên gạch đầu tiên, là tiền thân của lực lượng tàu chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam sau này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc quyết định thành lập thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng ngày 24/8/1955. (Ảnh tư liệu)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc quyết định thành lập thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng
ngày 24/8/1955. (Ảnh tư liệu)

Trên cơ sở Cục Phòng thủ bờ bể, ngày 24/1/1959, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 322/NĐ thành lập Cục Hải quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu, với chức năng nhiệm vụ “là cơ quan giúp Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh nghiên cứu, thực hiện kế hoạch xây dựng và chỉ huy lực lượng hải quân, quản lý các quân cảng, bảo vệ hải phận miền bắc trong thời bình, phối hợp các binh chủng và lực lượng vũ trang các địa phương chiến đấu trong thời chiến”. Biên chế tổ chức của Cục cũng thay đổi, với 5 phòng chức năng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Công trình, Đo đạc biển) và 5 đơn vị trực thuộc (Trường Huấn luyện Hải quân, Đoàn 130, Xưởng 46, Đoàn 135, Tiểu đoàn Công binh 145).

Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển mới của Cục Phòng thủ bờ bể từ cơ quan nghiên cứu chuyển sang chỉ đạo, chỉ huy mọi hoạt động của lực lượng hải quân. Ngày 20/4/1959, Đảng bộ Cục Hải quân được thành lập đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy.

Trong thời gian này, liên tiếp các đơn vị, lực lượng của Cục Hải quân được xây dựng, phát triển. Cục Hải quân luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn lịch sử đầu tiên này, bộ đội Hải quân đã 3 lần vinh dự được đón Bác Hồ về thăm[1]; trong lần thứ 2 về thăm (ngày 15/3/1961), Người dạy: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay, ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Lời dạy đó của Bác vừa là lời chỉ bảo ân tình, sâu sắc, vừa là mệnh lệnh thiêng liêng, trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong xác định nhiệm vụ và hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam.

Đến cuối năm 1963, lực lượng Hải quân Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Sau gần 9 năm xây dựng (5/1955-12/1963), Hải quân nhân dân Việt Nam đã có các lực lượng tàu tuần tiễu ven biển, tàu phóng ngư lôi, tàu săn ngầm, vận tải, trinh sát và một số tàu phục vụ khác như tàu dầu, tàu chở nước, tàu đo đạc biển, tàu trục vớt…, có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng chiến đấu trên biển; hệ thống cầu cảng, các đơn vị công binh công trình, lực lượng bảo đảm, phục vụ cùng với các cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng; hệ thống ra đa, đài trạm quan sát được bố trí dọc ven biển từ Quảng Ninh đến Cửa Tùng. Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ hải quân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.


[1] Lần thứ nhất vào ngày 30/3/1959; lần thứ hai vào ngày 15/3/1961 và lần thứ ba vào ngày 13/11/1962.

Có thể bạn quan tâm

Playboook về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Playboook về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam

Báo Nhân Dân xin trân trọng giới thiệu Playboook về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam với những nội dung cập nhật mới nhất về khuôn khổ pháp lý và điều ước quốc tế, tình hình xử lý xâm phạm bản quyền, đào tạo-nâng cao nhận thức, hoạt động hợp tác quốc tế, cũng như số liệu chi tiết về đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ.

Bước tiến trong bảo vệ sở hữu trí tuệ trên không gian số. (Ảnh minh họa. Nguồn: TL)

Trao quyền “phản ứng nhanh” cho Tòa án: Bước tiến trong bảo vệ sở hữu trí tuệ trên không gian số

Việc tăng thẩm quyền cho Tòa án trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ không chỉ giúp xử lý kịp thời các vi phạm trên môi trường mạng, mà còn mở ra cách tiếp cận mới trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trước thách thức từ các nền tảng xuyên biên giới.

Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sáng tạo mà còn là nền tảng thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bảo vệ tài sản số: Bài toán cấp bách của doanh nghiệp Việt

Bảo vệ tài sản số: Bài toán cấp bách của doanh nghiệp Việt

Trong bối cảnh chuyển đổi số bùng nổ, dữ liệu không chỉ là tài nguyên mà đã trở thành tài sản chiến lược. Tuy nhiên, sự gia tăng của các cuộc tấn công ransomware và rò rỉ dữ liệu đang đặt doanh nghiệp Việt Nam trước những rủi ro nghiêm trọng, đòi hỏi cách tiếp cận mới trong bảo vệ tài sản số.

Định giá tài sản trí tuệ: Điểm nghẽn không nằm ở pháp lý

Định giá tài sản trí tuệ: Điểm nghẽn không nằm ở pháp lý

Trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, tài sản trí tuệ ngày càng giữ vai trò then chốt trong cấu trúc giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động định giá và thẩm định giá vẫn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt từ thị trường và dữ liệu.

Bảo vệ tài sản số: Thách thức lớn trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số

Bảo vệ tài sản số: Thách thức lớn trong kỷ nguyên AI và chuyển đổi số

Khi tài sản trí tuệ chuyển sang môi trường số, ranh giới bảo vệ không còn nằm ở không gian vật lý mà phụ thuộc vào khả năng kiểm soát truy cập và dữ liệu. Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Đức Dũng, CEO Techcity, cho rằng năng lực bảo vệ tài sản số đang trở thành yếu tố cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp.