Tăng trưởng tích cực, doanh nghiệp vẫn chịu áp lực lãi suất
Theo báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế thành phố 6 tháng qua tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sản xuất công nghiệp, tiêu dùng ổn định, sự phục hồi của du lịch và xu hướng tích cực trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy, 32,8% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất, kinh doanh quý II/2026 thuận lợi hơn so với quý trước; 44,2% giữ mức ổn định và 23% cho rằng tình hình khó khăn hơn. Cũng theo khảo sát, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ lãi suất vay vốn cao (34,3%), nhu cầu thị trường quốc tế thấp (30,7%) và khó khăn về tài chính (25,6%). Áp lực lãi suất là bài toán khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vụ trưởng Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Phạm Chí Quang đánh giá: Lãi suất có xu hướng tăng vì có sự lệch pha giữa đầu ra và đầu vào của dòng vốn. Tính đến giữa tháng 6/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là 6,38%, đang vượt mức tăng trưởng huy động (4,3%) khoảng 2%.
Các chuyên gia phân tích Công ty chứng khoán KBSV nhận định: Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến hết tháng 5, mặt bằng lãi suất huy động của các khoản tiền gửi cũ và mới kỳ hạn từ 12-24 tháng trở lên đã tăng thêm 0,2-0,3% kể từ cuối tháng 3. Lãi suất huy động đang ở vùng đỉnh, khả năng sẽ tiếp tục neo cao trong quý III/2026, trước khi có dấu hiệu giảm dần từ đầu quý IV/2026 nhờ tiến triển tích cực trong cục diện xung đột Mỹ-Iran được kỳ vọng sẽ giảm bớt áp lực lên giá dầu và lạm phát.
Giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh trong nửa sau năm 2026 giúp nguồn vốn tồn đọng ở kho bạc được bổ sung vào hệ thống ngân hàng; đồng thời, các chính sách thiết thực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống giúp hạ nhiệt mặt bằng lãi suất.
Các giải pháp hạ nhiệt
Để giữ vững đà phục hồi, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa mở rộng và các công cụ điều hành tiền tệ linh hoạt trong nửa cuối năm được kỳ vọng sẽ là chìa khóa tháo gỡ nút thắt thanh khoản, hạ nhiệt chi phí vốn cho nền kinh tế.
Ông Phạm Thanh Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, thanh khoản hệ thống được bảo đảm.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp; có công văn chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất; tiếp tục công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng để khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay.
Trong nửa cuối năm 2026, trước dự báo nhu cầu tín dụng của nền kinh tế sẽ tiếp tục gia tăng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục chủ động theo dõi sát sao mọi diễn biến trên thị trường tiền tệ. Cơ quan quản lý sẽ tập trung điều hành linh hoạt các công cụ chính sách nhằm điều tiết dòng vốn đi đúng định hướng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ưu tiên.
Bên cạnh đó, việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa sẽ hướng tới mục tiêu giữ vững mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Tổng Giám đốc AFA Capital Nguyễn Minh Tuấn đánh giá: Việc lãi suất thị trường tăng cao trong nửa đầu năm không bắt nguồn từ việc thay đổi lãi suất điều hành, mà do sự sụt giảm nghiêm trọng về thanh khoản khi tổng tín dụng toàn nền kinh tế vượt xa tốc độ huy động vốn hàng triệu tỷ đồng từ năm trước.
Các chính sách điều hành sau ngày 1/7 có một đích đến rất rõ ràng là gia tăng tính thanh khoản cho thị trường tiền tệ, chấm dứt đà tăng và hướng tới hạ mặt bằng lãi suất thực tế để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hơn 11% trong hai quý cuối năm.
Áp lực lớn nhất đối với chính sách tiền tệ lúc này là lạm phát khi chỉ số CPI có xu hướng tiệm cận mức mục tiêu 4,5%. Tuy nhiên, chỉ tiêu lạm phát của Việt Nam được tính toán dựa trên mức trung bình cả năm nên việc biến động tăng trong ngắn hạn không làm thay đổi bản chất của chính sách nới lỏng.
Một yếu tố hỗ trợ quan trọng cho nửa cuối năm là xu hướng hạ nhiệt của giá dầu thế giới và sự ổn định của giá xăng E10 trong nước nhờ các chính sách miễn giảm thuế nhiên liệu kéo dài đến hết tháng 9. Giá xăng giảm về mức trung bình của năm 2025 giúp giảm áp lực chi phí đầu vào của nền kinh tế.
Các mô hình định lượng dự báo lạm phát có thể đạt đỉnh vào đầu tháng 8 nhưng sẽ kiểm soát an toàn dưới mức 4,5% cho đến hết năm, tạo điểm tựa vững chắc để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý cho nền kinh tế. “Bắt đầu từ tháng 7/2026, hàng loạt chính sách kinh tế nổi bật trong các lĩnh vực tiền lương, bảo hiểm xã hội, thuế và ngân hàng chính thức có hiệu lực, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho nền kinh tế.
Các quy định mới bao gồm cơ chế cấp bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại khi thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi, tăng lương cơ sở, tăng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, cùng việc siết chặt quản lý chi phí quyết toán vốn đầu tư dự án. Những chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ mạnh mẽ cho người dân cũng như doanh nghiệp”, ông Nguyễn Minh Tuấn thông tin.