Hội thảo quy tụ khoảng 250-300 đại biểu là lãnh đạo các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương; các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu lý luận, đại diện các trường đại học, viện nghiên cứu cùng đông đảo cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan báo chí.
Về phía lãnh đạo các ban, cơ quan Trung ương, có sự hiện diện của các đồng chí: Tiến sĩ Vũ Thanh Mai, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; các đồng chí lãnh đạo các Ban Tuyên giáo Trung ương; Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Về phía đại diện các bộ, ngành và tổ chức Trung ương, có sự hiện diện của các đồng chí lãnh đạo các cục/vụ/viện Văn phòng Chính phủ; Bộ Công thương; Tổng cục Thống kê; Bộ Tài chính; Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương; Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; Bộ Ngoại giao; Bộ Khoa học và Công nghệ.
Về phía các cơ quan chủ trì hội thảo, về phía Báo Nhân Dân có các đồng chí: Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Quế Đình Nguyên, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân; Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập, Chủ tịch Liên Chi hội Nhà báo Báo Nhân Dân; cùng các đồng chí trong Ban Biên tập, các đồng chí lãnh đạo các ban, đơn vị của Báo Nhân Dân.
Về phía Tạp chí Cộng sản có các đồng chí: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Minh Tuấn, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; cùng các đồng chí trong Ban Biên tập, các đồng chí lãnh đạo các ban, đơn vị của Tạp chí Cộng sản.
Về phía Đại học Kinh tế Quốc dân có các đồng chí: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Huy Nhượng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thành Hiếu, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Ánh, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân; Giáo sư, Tiến sĩ Tô Trung Thành, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân.
Về phía Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh có các đồng chí: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Quang Hùng, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Giáo sư, Tiến sĩ Sử Đình Thành, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Bích Nguyệt, Chủ tịch Ban Điều hành UEH Alumni; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á.
Về phía đại diện các đại học, trường đại học, viện nghiên cứu, có các đồng chí: Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội; đại diện Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu các đại học, các trường đại học và các viện nghiên cứu.
Hội thảo còn có sự hiện diện của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý và doanh nhân uy tín đến từ các viện nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học, các doanh nghiệp trên cả nước, cùng phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí.
Nhìn lại chặng đường 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986-2026), chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước đã đạt được trên mọi lĩnh vực và hiện nay, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử mang tính thời đại với Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã vạch rõ con đường đó là chúng ta không thể tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ vốn phụ thuộc vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ.
Yêu cầu của "Kỷ nguyên mới", đòi hỏi một mô hình phát triển hoàn toàn mới. Đó là mô hình dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại.
Trong dòng chảy đổi mới đó, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng các cơ sở giáo dục đại học, nhất là hai đại học hàng đầu của đất nước không chỉ là nơi truyền thụ tri thức, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn phải là địa chỉ tin cậy, có uy tín trong hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước, cho các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Năm 2026 là năm ghi dấu chặng đường phát triển đầy tự hào của hai đơn vị có mối quan hệ gắn bó đặc biệt khi Đại học Kinh tế Quốc dân tròn 70 năm (1956-2026) và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tròn 50 năm (1976-2026) hình thành và hội nhập phát triển. Điều này lại càng được thể hiện ý nghĩa hơn trong ngày hôm nay, dưới sự chứng kiến của quý vị đại biểu, quý vị khách quý hai đơn vị sẽ thực hiện ký kết thỏa thuận về hợp tác nghiên cứu và tư vấn chính sách công để thể hiện cam kết, đồng lòng cùng nhau đóng góp tri thức, nguồn lực góp phần phục vụ sự phát triển quốc gia.
Sự hội tụ giữa hai đại học, kết hợp cùng hai cơ quan ngôn luận, lý luận chính trị chiến lược của Trung ương Đảng là Báo Nhân Dân và Tạp chí Cộng sản đã tạo nên một mô hình hợp tác mang tính biểu tượng và sự đột phá.
Sự kết hợp này cho phép chúng ta tiếp cận vấn đề một cách đa chiều, kết nối chặt chẽ giữa lý luận khoa học, truyền thông định hướng và thực tiễn hoạch định chính sách thể hiện quyết tâm chính trị và trách nhiệm xã hội cao nhất của bốn cơ quan. Chúng tôi mong muốn tạo ra một không gian đối thoại đa chiều, cầu nối vững chắc giữa lý luận của Đảng, tri thức của giới học thuật và thực tiễn sinh động của đất nước.
Những kết quả, trí tuệ đóng góp của quý vị đại biểu từ hội thảo hôm nay sẽ được Ban Tổ chức tổng hợp đầy đủ, chắt lọc để xây dựng thành Báo cáo khuyến nghị chính sách gửi tới các cơ quan Đảng và Nhà nước.
Bốn mươi năm Đổi mới là một chặng đường có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được củng cố. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cho thấy sức mạnh to lớn được tạo ra khi tư duy phát triển được đổi mới và sức sáng tạo của toàn xã hội được phát huy.
Nhưng nhìn lại 40 năm không chỉ để khẳng định thành tựu, quan trọng hơn là nhận diện đúng những giới hạn của mô hình phát triển hiện nay, những điểm nghẽn cần tháo gỡ, những động lực mới cần kiến tạo. Từ đó, trả lời câu hỏi có ý nghĩa chiến lược: Việt Nam cần đổi mới mô hình phát triển như thế nào để tạo bước chuyển về chất, phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới?
Bối cảnh phát triển hiện nay đã rất khác thời điểm bắt đầu Đổi mới. Giai đoạn tới phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và kiến tạo động lực mới: từ tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên, lao động sang dựa vào năng suất, tri thức, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; từ tham gia chuỗi giá trị sang nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ và sáng tạo công nghệ; từ lợi thế chi phí sang lợi thế về năng suất và năng lực cạnh tranh. Từ cách tiếp cận đó, chúng tôi xin gợi mở một số vấn đề để Hội thảo cùng trao đổi.
Trước hết, cần đánh giá khách quan, toàn diện mô hình phát triển của Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, thẳng thắn nhận diện hạn chế, điểm nghẽn và nguyên nhân. Cùng với đó, cần làm rõ vai trò và mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế: kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực then chốt; kinh tế tư nhân thật sự trở thành một động lực quan trọng; khu vực đầu tư nước ngoài với sức lan tỏa và mức độ liên kết cao hơn với doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, cần xác lập và phát huy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh đang mở ra không gian phát triển rộng lớn. Trong mô hình phát triển mới, con người, tri thức và năng lực sáng tạo phải trở thành nguồn lực có tính quyết định.
Thứ ba, phải coi đổi mới tư duy và đột phá thể chế là điều kiện có ý nghĩa quyết định để khơi thông nguồn lực phát triển. Cải cách thể chế phải thực sự trở thành một động lực của phát triển: hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm; nâng cao chất lượng quản trị quốc gia; tổ chức lại không gian
phát triển, tăng cường liên kết vùng và vai trò của các cực tăng trưởng.
Thứ tư, cần tập trung làm sâu sắc vấn đề “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” theo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đặc biệt là tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, xác định: để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 và xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái phát triển là nhiệm vụ chiến lược để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo Nghị quyết, mô hình phát triển được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển không phải chỉ là một con số GDP cao hơn, mà là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trên nền tảng tự cường của đất nước, của toàn dân tộc như tinh thần Nghị quyết số 19 đã thể hiện. Bởi vậy, mô hình phát triển mới phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng; giữa hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; giữa hội nhập sâu rộng với nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế; giữa phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Giá trị văn hóa, nguồn lực con người và sự ổn định xã hội phải trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển.
Mục tiêu năm 2045 đặt ra yêu cầu rất cao đối với chặng đường phía trước. Thách thức không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là tạo dựng một năng lực phát triển mới: năng suất cao hơn, công nghệ hiện đại hơn, nhân lực chất lượng cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn và một thể chế đủ sức khơi thông, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển không phải chỉ là một con số GDP cao hơn, mà là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trên nền tảng tự cường của đất nước, của toàn dân tộc như tinh thần Nghị quyết số 19 đã thể hiện.
Hội thảo cần làm sáng rõ câu hỏi lớn: Việt Nam cần một mô hình phát triển như thế nào để vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm chất lượng và tính bền vững; vừa phát huy nội lực, vừa tận dụng hiệu quả cơ hội của hội nhập?
Bốn mươi năm trước, Đổi mới bắt đầu trước hết từ đổi mới tư duy. Bốn mươi năm sau, khi đất nước đứng trước một ngưỡng phát triển mới, tinh thần ấy càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn: không chỉ tháo gỡ giới hạn của mô hình cũ, mà chủ động kiến tạo mô hình mới; không chỉ khai thác lợi thế sẵn có, mà tạo ra lợi thế mới; không chỉ huy động nguồn lực, mà khơi dậy cao nhất trí tuệ, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên của con người Việt Nam. Đó là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Lễ ký kết Thỏa thuận về hợp tác nghiên cứu và tư vấn chính sách công.
Thỏa thuận này thiết lập khuôn khổ chính thức cho Nhóm nghiên cứu chính sách công của 2 đơn vị, tập trung phối hợp thực hiện các đề tài cấp quốc gia, công bố báo cáo thường niên và các tóm tắt chính sách phản ứng nhanh. Đồng thời, hai trường đại học sẽ tối ưu hóa nguồn lực dùng chung về hạ tầng dữ liệu, công nghệ AI và mạng lưới chuyên gia để đưa ra những tư vấn chính sách kịp thời, hiệu quả cho các cơ quan quản lý Nhà nước, đóng góp mạnh mẽ vào công cuộc đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Theo trường phái kinh tế phát triển, phát triển kinh tế là quá trình biến đổi toàn diện về mọi mặt. Trong đó, chúng tôi chia thành hai nhóm lĩnh vực chính: khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội (hiểu theo nghĩa rộng). Xét theo vị trí của từng cấu phần, mục tiêu xã hội chính là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển. Mục tiêu này hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống và gia tăng phúc lợi cho con người. Trong khi đó, kinh tế đóng vai trò là đòn bẩy, là công cụ để thực hiện quá trình nâng cao chất lượng sống đó. Ruột của quá trình này chính là hệ thống thể chế, chính sách và phương thức phân phối thành quả phát triển.
Trên cơ sở đó, mô hình phát triển được hiểu một cách chung nhất là phản ánh mục tiêu phát triển của một quốc gia và con đường để đạt được mục tiêu đó thông qua việc xây dựng thể chế, chính sách phù hợp. Qua nghiên cứu, chúng tôi phân loại thành 4 mô hình phát triển kinh tế chính trên thế giới:
Mô hình nhấn mạnh kinh tế: Tập trung tối đa cho tăng trưởng kinh tế ngay từ đầu.
Mô hình nhấn mạnh xã hội: Coi các chính sách xã hội là động lực chính để giải quyết các bài toán kinh tế. Chúng tôi cho rằng đây chính là mô hình của Việt Nam ở giai đoạn đầu đổi mới (từ năm 1986, thực chất là từ 1989).
Mô hình phát triển hỗn hợp (giai đoạn 1): Kết hợp cả hai mục tiêu kinh tế và xã hội nhưng lấy kinh tế làm nền tảng. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là mô hình Việt Nam đã áp dụng trong suốt thời kỳ đổi mới vừa qua.
Mô hình phát triển kết hợp (giai đoạn 2): Xuất hiện khi kinh tế đã đạt đến một quy mô nhất định. Lúc này, dù vẫn duy trì mô hình kết hợp nhưng các khía cạnh tiến bộ và công bằng xã hội được đưa lên thành mục tiêu trực tiếp. Các nguồn lực và chính sách kinh tế sẽ tập trung giải quyết các mục tiêu xã hội này.
Nhìn lại quá trình phát triển vừa qua, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo tiền đề để bước vào giai đoạn phát triển mới. Chúng tôi tổng hợp thành 3 nhóm thành tựu chính:
Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao: Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Bình quân mỗi năm GDP tăng khoảng 6,4%, gấp đôi mức tăng trưởng bình quân toàn cầu và cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Bình quân mỗi năm GDP tăng khoảng 6,4%, gấp đôi mức tăng trưởng bình quân toàn cầu và cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Năm 1990: Tổng GDP của Việt Nam chỉ đạt khoảng 6,7 tỷ USD (xếp thứ 85 thế giới).
Sau 40 năm: GDP đã vượt mốc 500 tỷ USD, vươn lên vị trí thứ 35 thế giới (tốc độ tăng trưởng quy mô đạt trên 70 lần).
So sánh: Năm 1990, GDP của Thái Lan là 85 tỷ USD (xếp thứ 35). Sau 40 năm, GDP Thái Lan chỉ còn hơn Việt Nam khoảng 12% và họ chỉ tăng được 5 bậc trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Đáng chú ý, Việt Nam đã cải thiện mạnh mẽ thu nhập bình quân đầu người:
Năm 1990: Thu nhập bình quân đầu người đạt 99 USD/năm (xếp thứ 122/130 quốc gia được xếp hạng - thuộc nhóm thấp nhất).
Năm 2009: Việt Nam chính thức thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp để bước vào nhóm thu nhập trung bình thấp.
Như vậy, sau 17 năm, chúng ta đã chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Trong khi đó, Thái Lan mất 23 năm, Philippines và Indonesia mất khoảng 30-31 năm để thực hiện bước chuyển này.
Đặc biệt, chúng ta đã tiến bộ vượt bậc về xã hội và phát triển con người, trong đó:
Về mặt công bằng xã hội: Các chỉ số phân phối thu nhập, bình đẳng xã hội theo cả chiều rộng và chiều sâu đều đạt ở mức cải thiện tích cực.
Về mặt chỉ số phát triển con người (HDI): Giai đoạn đầu đổi mới, HDI của Việt Nam chỉ đạt 0,499 (thuộc nhóm thấp). Đến năm 2025, chỉ số này đã đạt 0,766, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có HDI ở mức cao.
Bên cạnh các thành tựu, việc phân tích theo định hướng của Nghị quyết 29 cho thấy nền kinh tế vẫn tồn tại những điểm nghẽn lớn cần giải quyết:
Tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại: Biên độ tăng trưởng qua 4 thời kỳ có biểu hiện giảm dần. Nếu tiếp tục duy trì mô hình cũ, chúng ta khó có thể đạt được các mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai.
Động lực tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố truyền thống như:
Phụ thuộc vào vốn đầu tư: Tăng trưởng vốn vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP bình quân. Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
Phụ thuộc lớn vào khu vực FDI: Tăng trưởng xuất khẩu và GDP nội địa có sự đóng góp rất lớn từ khu vực FDI. Tuy nhiên, tính liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn rất yếu (chỉ khoảng 13% doanh nghiệp FDI có liên kết với doanh nghiệp trong nước). Tỷ lệ doanh nghiệp FDI có hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ đạt khoảng 2,3%.
Năng lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nước còn yếu:
Mặc dù được xác định là động lực quan trọng, khu vực tư nhân Việt Nam hiện gặp nhiều hạn chế: tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm đến 85%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 10%, trong khi doanh nghiệp vừa và lớn chỉ chiếm khoảng 5%.
Doanh nghiệp tư nhân còn thiếu sự liên kết, hiệu quả hoạt động chưa cao, trình độ công nghệ còn thấp và thu nhập bình quân của lao động trong khu vực này vẫn ở mức thấp.
Doanh nghiệp tư nhân còn thiếu sự liên kết, hiệu quả hoạt động chưa cao, trình độ công nghệ còn thấp và thu nhập bình quân của lao động trong khu vực này vẫn ở mức thấp.
Tính bao trùm trong phát triển còn hạn chế ở khía cạnh sau:
Bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nguồn lực (đất đai, vốn) còn cao. Hệ số Gini về tiếp cận đất đai ở mức 0,62; tiếp cận vốn ở mức 0,8.
Phân hóa thu nhập giữa các vùng miền và giữa các nhóm khu vực kinh tế (đặc biệt là khu vực tư nhân so với các khu vực khác) vẫn còn khoảng cách lớn.
Tác động tích cực của tăng trưởng đến tiến bộ xã hội có dấu hiệu giảm dần:
Hệ số co giãn giữa tăng trưởng GDP và các chỉ tiêu tiến bộ xã hội (như giảm tỷ lệ hộ nghèo, chỉ số HDI, mức chi tiêu bình quân) đang có xu hướng giảm.
Mức chi cho R&D (chỉ đạt khoảng 0,43% GDP so với chuẩn 1%), chi cho giáo dục (đạt 2,2% GDP so với chuẩn 4,6%), và chi cho y tế (đạt 1,89% GDP so với chuẩn 3-5%) đều đang ở mức thấp hơn đáng kể so với các tiêu chuẩn quốc tế.
Căn cứ vào Nghị quyết 19 với mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, mô hình phát triển mới của Việt Nam cần tập trung vào hai nhóm cấu phần chính:
Nhóm mô hình mục tiêu (Hướng tới phát triển bao trùm và bền vững): Phát triển văn hóa, con người; Bảo vệ môi trường, sinh thái; Hội nhập quốc tế sâu rộng; Xây dựng xã hội hiện đại; Bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Nhóm mô hình điều kiện (Đòn bẩy thực hiện): Phát triển kinh tế hiệu quả, tự chủ và hội nhập; Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đi từ một điểm xuất phát thấp để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải vượt qua nhiều thách thức, nhất là khi mô hình tăng trưởng hiện tại đang dần chạm tới giới hạn.
Phân tích của nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào những điểm nghẽn đối với năng suất của nền kinh tế. Bởi Việt Nam khó có thể trở thành quốc gia thu nhập cao nếu năng suất tiếp tục ở mức thấp và hàm sản xuất không có sự thay đổi căn bản.
Dữ liệu cho thấy, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam còn thấp so các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi. Tốc độ tăng trưởng vốn công nghệ thông tin và chất lượng lao động cũng còn hạn chế.
Để bắt kịp các nền kinh tế mới nổi, tăng trưởng chất lượng lao động của Việt Nam phải cao gấp bốn lần, đầu tư vốn công nghệ thông tin phải tăng gấp năm lần. Nếu so Hàn Quốc, tăng trưởng TFP phải đạt ít nhất 2% trung bình mỗi năm.
Trong khi đó, dư địa tăng năng suất từ chuyển đổi cơ cấu đang giảm dần. Quá trình chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, từ nông thôn ra thành thị không còn tạo động lực mạnh như trước. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển sang mô hình phát triển dựa nhiều hơn vào chất lượng lao động, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh trong hai thập niên qua nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn thấp. Giai đoạn 2010-2023, giá trị gia tăng của các ngành có thể giao thương chỉ tăng khoảng 5,4%/năm, thấp hơn mức 6,6% của các ngành không thể giao thương. Việc làm trong các ngành có thể giao thương giảm 1,4%/năm, trong khi khu vực không thể giao thương tăng 2,6%/năm.
Việt Nam cần tạo điều kiện để người lao động có thể trở về nông thôn sinh sống, làm việc thông qua mô hình “di cư ngược”; đồng thời phát triển “kinh tế bạc” khi đất nước bước vào giai đoạn dân số già từ năm 2036. Khát vọng thu nhập cao vì vậy phải gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao năng suất và bảo đảm mọi khu vực, nhóm dân cư đều có cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.
---
GS. TS Nguyễn Trọng Hoài
Một điểm nghẽn khác là sự liên kết yếu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Các mặt hàng xuất khẩu công nghệ thuộc nhóm “Quán quân mới nổi” tăng nhanh nhưng phần lớn nằm trong khu vực FDI. Trong khi đó, tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lại giảm. Điều này cho thấy chuyển giao công nghệ và tác động lan tỏa từ FDI tới doanh nghiệp Việt Nam chưa tương xứng.
Nghiên cứu đưa ra hai kịch bản phát triển. Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng cũ, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu thu nhập cao. Nếu thực hiện cải cách mạnh mẽ, đưa các nghị quyết vào cuộc sống và tập trung xử lý đúng các điểm nghẽn, Việt Nam có khả năng trở thành quốc gia thu nhập cao trong khoảng năm 2045-2047.
Trong kịch bản cải cách, tăng trưởng TFP phải tăng từ khoảng 0,2% lên trung bình 2%/năm. Nỗ lực cải cách cần tập trung vào vốn đầu tư cho công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước. Thu hút FDI thế hệ mới phải gắn với chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về chính sách, cốt lõi là chuyển từ mô hình 1i, thuần dựa vào đầu tư, sang mô hình 3i gồm Investment, Infusion và Innovation, tức đầu tư, lan tỏa công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ba trụ cột quan trọng là nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài; đưa doanh nghiệp Việt Nam lên những nấc thang có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam cũng còn nhiều dư địa phát triển xuất khẩu dịch vụ. Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam mới đạt 9,5%, thấp hơn đáng kể so mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD.
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng và thu nhập cao, mô hình phát triển mới cần bảo đảm tính cân bằng và bao trùm. Việt Nam cần tạo điều kiện để người lao động có thể trở về nông thôn sinh sống, làm việc thông qua mô hình “di cư ngược”; đồng thời phát triển “kinh tế bạc” khi đất nước bước vào giai đoạn dân số già từ năm 2036. Khát vọng thu nhập cao vì vậy phải gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao năng suất và bảo đảm mọi khu vực, nhóm dân cư đều có cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (đại diện từ phía Tạp chí Cộng sản) đưa ra góc nhìn sâu sắc về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước.
Về định hình mô hình đào tạo nhân tài, dẫn lại định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc ưu tiên đào tạo nhân tài và xây dựng các trung tâm mũi nhọn, ông đặt ra câu hỏi lớn về vai trò của các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu tại Việt Nam, các trường đại học lớn như Đại học Bách khoa Hà Nội hay Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cần định vị và triển khai công tác đào tạo nhân tài như thế nào để đáp ứng được kỳ vọng phát triển quốc gia.
Trong mô hình phát triển hiện đại, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đóng vai trò cốt lõi và có sự "thẩm thấu" tự nhiên vào mọi ngành nghề, lĩnh vực - từ việc lai tạo cây trồng trong nông nghiệp cho đến các hoạt động của doanh nghiệp, trường học...
Để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, cần khẩn trương tháo gỡ các rào cản thực tế, trong đó nút thắt lớn nhất hiện nay chính là cơ chế tài chính.
----
TS Hà Huy Ngọc
Ngoài ra, các vấn đề về chính sách, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học, hay mô hình kết nối hiệu quả giữa "các nhà" cũng cần sớm có lời giải thỏa đáng.
Bày tỏ sự kỳ vọng lớn vào các viện nghiên cứu và trường đại học hàng đầu, ông mong muốn các đơn vị sẽ chủ động đề xuất những chính sách mang tính đột phá về mặt thể chế.
Nếu muốn đổi mới mô hình tăng trưởng hay mô hình phát triển, điều quan trọng nhất là phải đổi mới môi trường quản trị quốc gia. Chúng ta không thể có một mô hình tăng trưởng mới trên nền tảng một hệ thống quản trị cũ kỹ.
Trong quản trị quốc gia, yếu tố quan trọng nhất là quản trị thời gian của bộ máy lãnh đạo bởi thời gian là nguồn tài nguyên khan hiếm nhất. Các lãnh đạo cấp cao cần phải dành thời gian cho những quyết định mang tính chiến lược. Nếu thời gian của lãnh đạo bị sa lầy vào những việc nhỏ nhặt, đó là lãng phí rất lớn. Thực tế, việc quản trị thời gian của chúng ta hiện nay đang gặp vấn đề ở các khía cạnh sau:
Phân cấp, phân quyền chưa triệt để: Chúng ta đang đi theo hướng “cấp nào có nhiều thông tin nhất thì giải quyết vấn đề đó”. Đây là hướng đi đúng, nhưng thực tế việc phân cấp chưa rõ ràng dẫn đến việc đẩy trách nhiệm lên cấp trên.
Chưa rõ ràng về phạm vi thẩm quyền: Những vấn đề thuộc thẩm quyền quốc gia thì cấp trung ương quyết định, những vấn đề nội bộ của tỉnh, thành phố thì địa phương phải tự quyết. Nếu cứ đẩy hết lên trung ương, hệ thống sẽ bị nghẽn mạch.
Nếu muốn đổi mới mô hình tăng trưởng hay mô hình phát triển, điều quan trọng nhất là phải đổi mới môi trường quản trị quốc gia.
Chưa có thể chế chấp nhận rủi ro cho đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ: Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm với rủi ro. Theo kinh nghiệm thế giới, các dự án khởi nghiệp sáng tạo khoa học công nghệ có tỷ lệ thất bại lên tới 90-95%. Nếu thể chế không bảo vệ người làm, không chấp nhận rủi ro trong thử nghiệm, sẽ không ai dám nghĩ, dám làm.
Bên cạnh đó là câu chuyện quản trị liên ngành, liên vùng. Các vấn đề hiện nay đều mang tính liên ngành, liên vùng. Thí dụ như: an toàn thực phẩm liên quan đến cả Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công thương. Nếu mỗi bộ chỉ làm tốt phần việc của mình mà thiếu cơ chế phối hợp đầu mối, bài toán chung vẫn không thể giải quyết.
Muốn tối ưu hóa thời gian và nâng cao hiệu quả quản trị, chúng ta bắt buộc phải có bước chuyển đổi mạnh mẽ về thể chế, mong Hội thảo và các cơ quan truyền thông tiếp tục xới xáo, nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
Có thể thấy, trong 40 năm qua, như hai diễn giả là GS.TS Ngô Thắng Lợi và GS.TS Nguyễn Trọng Hoài đã trình bày về đổi mới mô hình phát triển, cũng như đưa ra các kịch bản phát triển từ nay đến năm 2045, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất to lớn. Từ mức thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 80 USD vào năm 1986, đến năm 2025, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt 4.970 USD và Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Đó là thành tựu rất lớn trong 40 năm.
Tuy nhiên, nếu nhìn lại 40 năm đó và so sánh với các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Á, Đông Bắc Á, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore, chúng ta thấy để trở thành nước tiên tiến, họ cũng chỉ mất tối đa khoảng 40 năm; có nước khoảng 30 năm, có nước khoảng 28 năm. Đây là vấn đề đáng để chúng ta suy ngẫm. Họ chỉ mất khoảng 25-30 năm, hoặc tối đa 40 năm, để trở thành những nước tiên tiến trên thế giới, có thu nhập cao và trình độ phát triển như hiện nay.
Về mô hình tăng trưởng, từ khi bắt đầu chuyển đổi vào những năm 1990 đến nay, trong giai đoạn đầu, tăng trưởng của chúng ta chủ yếu dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ. Ở giai đoạn tiếp theo, khi Việt Nam chuyển từ nước thu nhập thấp sang nước thu nhập trung bình thấp, chúng ta chủ yếu dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, thu hút nhiều nguồn vốn FDI và tham gia gia công. Giá trị gia tăng do các doanh nghiệp trong nước tạo ra còn rất thấp; các ngành sử dụng nhiều lao động vẫn là chủ yếu.
Đến nay, chúng ta đang chuyển đổi sang mô hình dựa vào hiệu quả và năng suất. Tuy nhiên, đóng góp của năng suất còn hạn chế, chưa đạt 50%, ở mức khoảng 48,6% như trong phần trình bày của Giáo sư Lợi và Giáo sư Hoài; tốc độ tăng năng suất của chúng ta cũng rất thấp.
Rõ ràng, để đạt tốc độ tăng trưởng cao từ nay đến năm 2045, mô hình tăng trưởng của chúng ta phải chuyển đổi rất mạnh mẽ, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chúng ta phải tạo ra những giá trị đặc thù của Việt Nam, những giá trị do Việt Nam tạo ra. Các nền kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc) đã xây dựng được những doanh nghiệp, thương hiệu rất mạnh, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao.
Về thể chế, tôi có thực hiện một so sánh dựa trên bộ Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) được quốc tế sử dụng để đánh giá chất lượng thể chế. Ở đây, chúng tôi chia thành ba nhóm nước. Chỉ số được đánh giá trong khoảng từ -2,5 đến 2,5 điểm; mức cao nhất là 2,5 và thấp nhất là -2,5.
Hiện nay, các chỉ số của Việt Nam đang ở mức từ -0,5 đến 0. Trong đó, có những chỉ số của chúng ta còn rất thấp, chẳng hạn như tiếng nói và trách nhiệm giải trình; hiệu quả của Chính phủ; chất lượng các quy định; pháp quyền. Chúng ta đã có những chính sách, những cải tiến và nỗ lực phòng, chống tham nhũng rất mạnh; tuy nhiên, chỉ số kiểm soát tham nhũng của chúng ta vẫn chưa cao.
Vấn đề là phải nâng cao chất lượng thể chế, tạo ra một cơ chế truyền động. Trong thời gian qua, chúng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân và nhiều chính sách liên quan… Tuy nhiên, điều quan trọng là làm thế nào để các nghị quyết và định hướng đó được chuyển thành những kết quả cụ thể, tạo ra giá trị gia tăng và những giá trị đặc thù trong quá trình phát triển.
Để thực hiện trong giai đoạn tới, đối với mô hình hướng tới, tôi đề xuất bảy yếu tố.
Thứ nhất là định hướng quốc gia và năng lực trung tâm. Các quốc gia phải giải phóng và nuôi dưỡng năng lực trong nước thông qua tầm nhìn dài hạn; phối hợp hiệu quả; nắm bắt các xu hướng toàn cầu; xây dựng sức mạnh để tồn tại, duy trì, đổi mới và phát triển.
Thứ hai là tự chủ, tích hợp và liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ. Bộ máy chính quyền chuyên nghiệp, dựa vào pháp quyền, phải kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp và khu vực công nghệ.
Thứ ba là chính sách công nghiệp có trọng tâm, đi kèm kỷ luật hiệu quả. Cần có sự hỗ trợ có điều kiện như tín dụng, mua sắm và tiêu chuẩn. Chúng ta cần xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn và chính sách mua sắm ưu tiên đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân trong nước, với các mốc thời gian và điều khoản kết thúc rõ ràng.
Thứ tư là nguồn nhân lực và năng lực mới. Cần đầu tư cho giáo dục, kỹ năng mua sắm công nghệ và nghiên cứu, phát triển.
Thứ năm là cơ sở hạ tầng, tài chính phát triển và nền tảng kỹ thuật số. Cần nâng cấp năng lực hậu cần, khả năng tiếp cận nguồn vốn, hạ tầng kỹ thuật và các nền tảng dùng chung như AI, IoT hoặc dữ liệu đám mây. Những nội dung này cần được phát triển trên một hệ sinh thái. Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ số, đây là yếu tố hết sức quan trọng, có thể giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển.
Thứ sáu là mở cửa có chiến lược và hội nhập toàn cầu. Chúng ta thu hút FDI nhưng phải xây dựng liên kết nội địa, đáp ứng các tiêu chuẩn và nâng cấp doanh nghiệp trong nước.
Cuối cùng là quản trị dựa trên bằng chứng và đồng thuận xã hội.
Dưới góc độ chuyển đổi xã hội, trong 40 năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu. Từ một quốc gia rất nghèo vào những năm 1980-1990, đến nay, Việt Nam đã trở thành một nước có thu nhập trung bình (đang hướng tới thu nhập trung bình cao theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới). Đặc biệt, theo các chỉ tiêu xã hội, Việt Nam có thể sánh vai, thậm chí vượt trội hơn một số quốc gia có cùng mức thu nhập trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan hay Malaysia.
Tuy nhiên, xem xét trong vòng 20 năm tới, đặc biệt là tầm nhìn xa hơn khi chúng ta thay đổi mô hình tăng trưởng để đạt được các mục tiêu xã hội, hướng tới tăng trưởng bao trùm và phát triển bao trùm, tôi cho rằng có một số vấn đề lớn mà chúng ta cần phải xem xét bởi Việt Nam không nằm ngoài các xu hướng lớn của thế kỷ 21.
Trước hết là vấn đề già hóa dân số. Việt Nam hiện đang trong giai đoạn già hóa dân số diễn ra rất nhanh so với mức thu nhập của chúng ta. Một trong những nguy cơ lớn nhất mà chúng ta thường nói đến là khả năng Việt Nam sẽ “già trước khi giàu”. Điều đó có nghĩa là nguồn lực chuẩn bị cho một xã hội dân số già sẽ bị hạn chế nếu tốc độ già hóa diễn ra quá nhanh so với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Tiếp đến là vấn đề di cư. Ở góc độ xã hội, đô thị hóa gắn liền với di cư. Xu hướng này tạo ra sự thay đổi rất lớn về cấu trúc dân số ở cả khu vực thành thị và nông thôn.
Cùng với đó, tầng lớp trung lưu của chúng ta đã tăng trưởng rất mạnh mẽ trong thời gian qua và dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Đây là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức rất lớn khi nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của họ thay đổi.
Đặc biệt, quá trình số hóa, chuyển đổi số cũng tạo ra động lực thúc đẩy thay đổi xã hội, nhưng đồng thời cũng có nguy cơ tạo ra những khoảng cách, những khoảng trống rất lớn giữa các nhóm dân cư.
Cuối cùng là vấn đề biến đổi khí hậu. Việt Nam là một trong 10 quốc gia chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu và yếu tố này không thể nằm ngoài các dự báo phát triển và tăng trưởng kinh tế của chúng ta.
Việt Nam hiện đang trải qua một giai đoạn nhân khẩu học thú vị khi chúng ta vừa có cơ cấu dân số “vàng”, vừa chứng kiến tốc độ già hóa diễn ra rất nhanh.
---
GS. TS Giang Thanh Long
Việt Nam hiện đang trải qua một giai đoạn nhân khẩu học thú vị khi chúng ta vừa có cơ cấu dân số “vàng”, vừa chứng kiến tốc độ già hóa diễn ra rất nhanh. Cơ cấu dân số vàng này dự kiến sẽ đạt đỉnh vào năm 2039, sau đó sẽ giảm dần. Cùng thời điểm đó, chúng ta sẽ chính thức bước vào giai đoạn dân số già khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tại Việt Nam chiếm 14% tổng dân số.
Thực tế, hiện nay, tốc độ già hóa đang diễn ra rất nhanh do tổng tỷ suất sinh giảm mạnh, trong khi tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng được cải thiện. Trong bối cảnh đó, chúng ta thảo luận rất nhiều về khái niệm "nền kinh tế bạc". Tuy nhiên, nền kinh tế bạc không phải là một nền kinh tế tĩnh có sẵn trong tương lai để chúng ta thụ hưởng. Muốn có nó, chúng ta phải biết khai thác "mỏ vàng" dân số ngay từ bây giờ.
Trên thực tế, lực lượng lao động của Việt Nam đang đối mặt với những thách thức như chất lượng lao động thấp, bẫy giá trị gia tăng thấp, trong khi ỷ lệ việc làm phi chính thức quá cao. Cùng với đó, nước ta cũng thiếu chính sách bảo vệ cho đối tượng lao động cao tuổi, vẫn còn khoảng trống trong an sinh xã hội.
Để chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng và phát triển mới, Việt Nam không thể tách rời bài toán kinh tế với các vấn đề xã hội. Nếu không lựa chọn một giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hệ thống y tế, các thách thức nêu trên sẽ trở thành những rào cản vô cùng lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.
Chúng tôi đang thực hiện một nghiên cứu về tác động của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến doanh nghiệp. Chúng tôi tiếp cận, phân tích và nghiên cứu 31 doanh nghiệp ở 7 tỉnh của vùng Đông Nam Bộ, với dữ liệu từ năm 2015 đến năm 2024. Qua nghiên cứu, chúng tôi phát hiện rằng thực sự trong thời gian vừa qua, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tác động trực tiếp để tạo ra tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Chúng ta đã tạo ra một cơ chế truyền dẫn dựa trên cơ sở tăng cường đầu tư vào hạ tầng logistics, chuyển đổi số, nhưng thực sự chưa tạo ra kết quả sinh lợi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nguyên nhân là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta thiếu kỹ năng quản trị, không có đủ thông tin để tiếp cận. Chúng ta cũng có rất nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp, nhưng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ không có ai để tiếp cận và thụ hưởng các chính sách đó một cách hiệu quả. Và đây cũng chính là rào cản khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đến thời điểm này vẫn chưa thực sự mạnh được và lớn được.
Chúng ta cũng có rất nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp, nhưng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ không có ai để tiếp cận và thụ hưởng các chính sách đó một cách hiệu quả. Và đây cũng chính là rào cản khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đến thời điểm này vẫn chưa thực sự mạnh được và lớn được.
----
PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt
Bên cạnh đó, đối với hệ thống chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tác động đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là khi tiếp cận được, bao giờ cũng tạo một độ trễ nhất định. Chi cho công nghệ và đầu tư vào hạ tầng mang tính tích lũy theo thời gian. Vì thế, các doanh nghiệp có thể chưa đủ lớn để thụ hưởng những chính sách đó thì đã không tồn tại được để tiếp tục thụ hưởng chính sách. Đó là sự tiếp cận non nớt, nguồn lực yếu và nguồn lực nghiên cứu hạn chế.
Một nguyên nhân nữa là khi tiếp cận với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tất cả mọi người đều ngại rủi ro khi tiếp cận liên quan đến chính sách và đầu tư từ các chương trình khoa học, công nghệ cũng như các chương trình chi cho khoa học, công nghệ. Họ thiếu kiến thức về pháp luật, không đủ tự tin để tiếp nhận nguồn đó. Thủ tục của chúng ta quá phức tạp và họ không đủ kiên nhẫn để có thể tiếp cận. Nếu tiếp cận xong rồi thì cơ hội đầu tư của họ liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể đã qua mất rồi.
Từ những nhận định đó, chúng tôi có một vài ý kiến với mong muốn làm sao để doanh nghiệp của chúng ta, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và đặc biệt là các doanh nghiệp bắt đầu khởi sự, có thể phát triển dựa trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ và thực hiện đổi mới sáng tạo.
Một là, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được đầu tư, không phải một đồng hoặc một số vốn trực tiếp cho doanh nghiệp, mà cần đầu tư để làm sao tiết kiệm được chi phí logistics, chi phí về chuyển đổi số, chi phí về hạ tầng để người ta giảm được chi phí trong quá trình hoạt động, từ đó có thể hạ giá thành và cạnh tranh được với các thành phần khác.
Hai là, họ cần chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ trực tiếp, linh hoạt và phù hợp để làm sao họ có thể tiếp cận được với thông tin, với các chương trình hỗ trợ một cách thực chất, chứ không phải hoạt động theo hình thức.
Ba là, các doanh nghiệp luôn luôn nói là Nhà nước phải đóng vai trò làm sao để giảm rủi ro và kích hoạt được vốn đầu tư tư nhân, chứ không phải đẩy họ vào đầu tư rồi để họ phải gánh chịu những rủi ro về pháp lý. Đây là những vấn đề gây rất ngại.
Bốn là, quản lý khoa học, công nghệ nên chuyển từ đánh giá đầu vào sang đánh giá hiệu quả thực tế. Bởi sự hấp thụ của các doanh nghiệp không phải là các đề tài, báo cáo, số lượng đề tài hay các chương trình nghiên cứu, mà phải thể hiện bằng kết quả và các doanh nghiệp là bao nhiêu.
Như vậy, hiệu quả chi đầu tư công cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mới thực sự đáp ứng cho tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, dựa trên nội lực của nền kinh tế, để sự phát triển bền vững và tăng trưởng một cách dài hạn tại Việt Nam.
GS. TS Sử Đình Thành, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã chia sẻ kết quả nghiên cứu các điều kiện cần thiết để đạt mức tăng trưởng kinh tế hai con số dựa trên dữ liệu thực chứng từ 165 quốc gia trong hơn nửa thế kỷ.
Nghiên cứu xác định bốn yếu tố then chốt quyết định sự bứt phá này bao gồm: tỷ lệ đầu tư, tỷ trọng ngành chế biến chế tạo giá trị cao, quy mô chi tiêu chính phủ và khả năng kiểm soát lạm phát.
Đặt trong bối cảnh tại Việt Nam, GS. TS Sử Đình Thành chỉ ra rằng, dù chúng ta có độ mở thương mại và thu hút FDI rất lớn, nhưng khả năng chuyển hóa các nguồn lực này thành giá trị nội tại trong ngành chế tạo vẫn còn hạn chế. Do đó, thông điệp cốt lõi là Việt Nam cần tránh phụ thuộc thuần túy vào số lượng vốn đầu tư mà phải tập trung nâng cao năng lực nội lực và dịch chuyển cơ cấu kinh tế sang các ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao để duy trì đà tăng trưởng bền vững.
Ông khuyến nghị Việt Nam cần có cơ chế chuyển hóa dòng vốn FDI và độ mở thương mại cực kỳ lớn hiện tại thành năng lực công nghệ và nội lực thực tế của doanh nghiệp trong nước. Sự kết hợp giữa hội nhập và nội lực hóa mới tạo ra sự cộng hưởng thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế mạnh mẽ.
GS. TS Sử Đình Thành cho rằng, tăng trưởng hai con số vững chắc chỉ có thể đạt được khi Việt Nam giải quyết được bài toán dịch chuyển cơ cấu ngành hướng tới các lĩnh vực có tỷ suất sinh lời và giá trị gia tăng cao, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô thông qua kiểm soát lạm phát và tối ưu chi tiêu chính phủ.
Chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua là để xác định con đường đi tiếp cho đất nước trong giai đoạn mới. Đúng như người xưa đã nói: “Nhìn lại ngày hôm qua để hướng tới ngày mai”.
Nhìn lại 40 năm trước, vào tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử của công cuộc Đổi mới. Là một người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, vừa là nhà khoa học kỹ thuật, vừa là nhà quản lý doanh nghiệp, tôi nhận thấy các phát biểu của các chuyên gia tại hội thảo, nhất là ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Dũng đã chạm đúng vào những vấn đề cốt lõi mà thực tiễn đang gặp phải. Đó là bài toán quản trị đất nước và quản trị nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Cụ thể, trong giai đoạn 1985-1986, sau 10 năm đất nước thống nhất (1975-1985), đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Trong bối cảnh đó, điều quan trọng nhất là sự ra đời của Nghị quyết 10 (còn gọi Khoán 10) vào năm 1988 đã tạo nên bước ngoặt thay đổi cục diện nền kinh tế. Tôi nhớ ngày 30/3/2019, khi phát biểu tại một diễn đàn người tiêu dùng Pháp, đại biểu Quốc hội Pháp đã nhận xét: “Việt Nam là một kỳ tích sáng ngời”, vì từ một quốc gia có 50% hộ nghèo sau khi thống nhất, Việt Nam đã giảm tỷ lệ này xuống chỉ còn khoảng 3%. Từ một nước thiếu ăn, chúng ta đã trở thành 1 trong 5 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới.
Thực tiễn này được minh chứng rõ qua chính câu chuyện của chúng tôi. Tôi chính là người trực tiếp xây dựng Đề án Đổi mới doanh nghiệp Việt Nam trước khi Nghị quyết 10 ra đời. Khi đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh (lúc bấy giờ là Tổng Bí thư) và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trực tiếp xuống khảo sát thực tế tại đơn vị chúng tôi. Nghe báo cáo xong, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nhận xét: “Đây chính là lý luận từ thực tiễn”. Và chính những mô hình thực tiễn đó đã góp phần minh chứng cho sự ra đời của Nghị quyết 10/NQ-TW/1988, giải phóng sức lao động và thay đổi bộ mặt đất nước.
Đó chính là cơ chế, là thể chế. Chúng ta đã từ bỏ mô hình kinh tế tập trung bao cấp để chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sự thay đổi thể chế này đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế như các chuyên gia đã nhận định.
Từ thực tiễn đó, tôi rút ra 3 bài học kinh nghiệm:
Thứ nhất, thể chế phải đi trước và được hiện thực hóa. Nghị quyết của Đảng muốn đi vào cuộc sống thì Nhà nước phải thể chế hóa thành cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý rõ ràng. Khi đó, doanh nghiệp và người dân mới có cơ sở để thực thi.
Thứ hai, tinh thần chủ động, không trông chờ ỷ lại. Doanh nghiệp và các đơn vị cơ sở phải chủ động sáng tạo, tự tìm hướng đi thay vì thụ động chờ đợi cấp trên.
Thứ ba, tái cấu trúc chiến lược dựa trên khoa học-công nghệ. Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đa phần còn nhỏ, năng lực quản trị và trình độ khoa học-công nghệ còn hạn chế. Năm 2001, chúng tôi đã xây dựng chiến lược phát triển dựa trên 3 trụ cột: nâng cao năng suất, đẩy mạnh khoa học công nghệ, mở rộng hợp tác. Chúng tôi thành lập Viện Nghiên cứu tư nhân đầu tiên trong ngành nông nghiệp Việt Nam vào năm 2002. Từ một doanh nghiệp không ai biết đến, nay chúng tôi đã trở thành đơn vị hàng đầu trong ngành giống cây trồng, ứng dụng công nghệ hiện đại, có uy tín tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương và làm chủ tới 20% thị phần giống cây trồng toàn quốc, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Nếu các chủ trương, nghị quyết này được đưa vào cuộc sống một cách thực chất và mạnh mẽ, nhất định nền kinh tế sẽ có bước bứt phá vượt bậc, chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu của kỷ nguyên mới, từng bước trở thành một nước hùng cường, sánh ngang với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.
------
Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo
Về mô hình tăng trưởng giai đoạn tới, chúng ta đã có Nghị quyết 68/NQ-TW/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 57-NQ/TW/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nếu các chủ trương, nghị quyết này được đưa vào cuộc sống một cách thực chất và mạnh mẽ, nhất định nền kinh tế sẽ có bước bứt phá vượt bậc, chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu của kỷ nguyên mới, từng bước trở thành một nước hùng cường, sánh ngang với các cường quốc năm châu như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.
Mô hình kinh tế của Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn trước đây vẫn phụ thuộc vào 2 nguồn lực chính là đất đai và lao động trình độ thấp. Tuy nhiên, “lợi thế” này lại chính là những khó khăn trong quá trình phát triển.
Đối với vấn đề về đất đai: Việt Nam luôn gặp nhiều hạn chế, việc quản lý còn khó khăn, chưa hiệu quả. Để mô hình phát triển, chúng ta cần thoát khỏi những quan điểm, cách quản lý về “đất”. Đây chính là điểm then chốt để có thể đổi mới mô hình phát triển.
Bên cạnh đó, lao động “giá rẻ” ít có ý nghĩa với khu vực nội địa, nhưng lại rất có ý nghĩa với khu vực nước ngoài, nên chúng ta cần có cách nhìn nhận, đánh giá đúng thực chất. Chúng ta cần một mô hình kinh tế thoát được khỏi lao động ‘chân tay’. Nếu không nền kinh tế của chúng ta có thể tăng trưởng nhưng lại không thể chuyển đổi về cấu trúc.
Thời đại mới đang chuyển đổi từ lao động chân tay, sang lao động trí óc, lao động sáng tạo. Doanh nghiệp phải là trung tâm của công cuộc đổi mới.
Chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận, năng lực của doanh nghiệp như thế nào, đến từ đâu? Điểm mấu chốt là bảo đảm môi trường cạnh tranh tự do, công khai, minh bạch để Nghị quyết 68 thực sự mang lại ý nghĩa thiết thực.
Với thời đại phát triển của AI, tự động hóa, nhiều lao động bị đẩy ra khỏi cuộc “chơi”, tuy nhiên đây vẫn là một nguồn lực rất lớn, chúng ta cần có những cơ chế, chính sách, quan tâm hơn tới nhóm đối tượng lao động này.
Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển nhanh và mạnh như hiện nay, các doanh nghiệp cần chủ động trong vấn đề hoạt động sản xuất, kinh doanh để ứng biến được với thời đại mới. Chính điều đó, đặt ra vấn đề rất lớn cho những nhà quản lý, làm chính sách, nghiên cứu là nhìn nhận thật đúng, thật trúng và sớm có những giải pháp, mô hình quản lý hiệu quả.
Nhìn lại 40 năm Đổi mới không chỉ để khẳng định những thành tựu kinh tế-xã hội mà quan trọng hơn là nhận diện quá trình phát triển sáng tạo lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phía sau những thay đổi của đất nước là một cuộc đổi mới sâu sắc trong tư duy lý luận. Đổi mới không chỉ là thay đổi cơ chế quản lý, điều chỉnh chính sách, mà trước hết là thay đổi nhận thức, từ đó mở đường cho những đột phá trong thực tiễn.
Thực tiễn sau năm 1975 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới. Đất nước xuất phát từ nền kinh tế nghèo nàn, hậu quả chiến tranh nặng nề, đời sống nhân dân khó khăn, trong khi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế. Một số nhận thức về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ còn giản đơn, nóng vội. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng năm 1986 mở ra bước ngoặt với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.
Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn, đây là bước chuyển quan trọng về phương pháp tư duy, khẳng định đường lối phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo. Những biến động lớn của thế giới cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 tiếp tục đặt ra thử thách về chính trị và lý luận. Tuy nhiên, Đảng không dao động về mục tiêu đã lựa chọn, đồng thời đổi mới những nhận thức và phương thức không còn phù hợp.
Điểm nổi bật xuyên suốt 40 năm đổi mới là sự thống nhất giữa “kiên định và sáng tạo”. Kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng; đồng thời không ngừng tìm tòi mô hình, bước đi và phương thức phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Một trong những bước phát triển lý luận quan trọng là hình thành và hoàn thiện nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng từng bước thừa nhận vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực, sự tồn tại lâu dài của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Kinh tế tư nhân từ chỗ được thừa nhận trong những năm đầu đổi mới từng bước được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Cùng với đổi mới kinh tế, tư duy về văn hóa, xã hội và con người ngày càng toàn diện. Con người được xác định vừa là trung tâm, chủ thể, nguồn lực, vừa là mục tiêu của phát triển. Trong lĩnh vực chính trị, nhận thức về Đảng cầm quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ thể của Nhân dân tiếp tục được hoàn thiện. Quan hệ “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ” ngày càng rõ hơn, gắn với yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tư duy quốc phòng, an ninh chuyển mạnh sang bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đường lối đối ngoại chuyển sang độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ động hội nhập quốc tế. Từ những đổi mới trên từng lĩnh vực, qua 40 năm tổng kết thực tiễn, các quan điểm từng bước kết tinh thành lý luận về đường lối đổi mới.
Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn, đây là bước trưởng thành quan trọng, thể hiện năng lực của Đảng trong tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận từ chính thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ông nhấn mạnh: “Kiên định không đồng nghĩa với bất biến, sáng tạo không đồng nghĩa với xa rời nguyên tắc”. Kiên định là nền tảng để sáng tạo không mất phương hướng; sáng tạo là điều kiện để sự kiên định có sức sống trong thực tiễn. Trong giai đoạn mới, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, biến đổi khí hậu và cạnh tranh chiến lược tiếp tục đặt ra những vấn đề mới đối với công tác lý luận.
Hội thảo khoa học “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” nhận được gần 200 bài tham luận của các nhà khoa học và hoạt động thực tiễn. Các bài viết đều thể hiện tâm huyết, tinh thần trách nhiệm và nhiều bài tham luận có chất lượng khoa học cao.
Hội thảo đã tập trung trao đổi, luận giải từ nhiều góc độ những vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với con đường phát triển của đất nước: từ cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình phát triển; mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ, tự cường với hội nhập quốc tế; vai trò của con người, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo; đến yêu cầu đổi mới thể chế và quản trị quốc gia trong điều kiện mới.
Các tham luận và ý kiến phát biểu tập trung làm rõ nhiều vấn đề trọng tâm.
Thứ nhất, các tham luận đã khẳng định tính tất yếu lịch sử và tầm vóc chiến lược của việc đổi mới mô hình phát triển trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, khái quát khung khổ Mô hình phát triển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW dựa trên sự phát triển toàn diện, hài hòa và đồng bộ. Theo đó đổi mới mô hình phát triển không phải là sự điều chỉnh cục bộ về mặt kinh tế, mà là quá trình tái thiết đồng bộ hệ sinh thái phát triển đất nước trên 7 trụ cột cấu thành: mô hình kinh tế; mô hình phát triển xã hội; mô hình phát triển văn hóa, con người; mô hình môi trường sinh thái; mô hình quốc phòng-an ninh; mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế và mô hình quản trị quốc gia.
Thứ ba, các ý kiến tại hội thảo đã đi sâu làm rõ mô hình tăng trưởng kinh tế - hạt nhân và động lực trung tâm của mô hình phát triển Việt Nam.
Thứ tư, các trao đổi tại hội thảo đã đi sâu vào các giải pháp trọng tâm như: đột phá vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Có thể thấy, nội dung của các bài tham luận và ý kiến phát biểu trong cuộc hội thảo sẽ tiếp tục được nghiên cứu, chắt lọc để phục vụ nghiên cứu và tư vấn cho Đảng, đồng thời những nội dung hôm nay góp phần vào triển khai quán triệt và thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 28/7/2026, về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, hướng đến “Xây dựng mô hình phát triển Việt Nam tự cường, hội nhập, toàn diện, lấy con người làm trung tâm, khoa học-công nghệ làm động lực và quản trị hiện đại làm bệ phóng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình”.