Giảm tỷ lệ chuyển tuyến không phù hợp khoảng 30%

NDĐT – Nhờ triển khai những đề án nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho tuyến dưới như chỉ đạo tuyến, đến nay, đã giảm tỷ lệ chuyển lên tuyến trên không phù hợp trung bình khoảng 30%.

Giảm tỷ lệ chuyển tuyến không phù hợp khoảng 30%

Thời gian qua, ngành y tế không ngừng đổi mới hoạt động khám chữa bệnh (KCB) từ việc thực hiện 83 tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (BV), đổi mới quy trình KCB, đổi mới tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, cho đến các Đề án nâng cao chất lượng KCB như thực hiện Đề án 1816, Đề án BV vệ tinh, Đề án bác sĩ gia đình, lập hồ sơ quản lý sức khỏe, Đề án củng cố mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu theo nguyên lý y học gia đình… nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Đến nay, số lượng BV hạt nhân tham gia đề án bệnh viện vệ tinh có 22 BV bao gồm 14 BV tuyến TƯ, 8 BV thuộc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh và Sở Y tế Hà Nội. Số lượng BV vệ tinh tham gia đề án gồm 139 bệnh viện, trong đó có 117 BV tuyến tỉnh, 18 BV huyện, 4 BV tư nhân

Giai đoạn đầu, đề án tập trung vào năm chuyên khoa quá tải gồm nội tim mạch, ngoại chấn thương, sản, nhi, ung bướu và đã mở rộng thêm sang nội tiết, huyết học… Để giúp tuyến dưới, các bệnh viện tuyến trên đã chuyển giao kỹ thuật thông qua việc tăng cường đào tạo, chuyển giao kỹ thuật; bảo đảm giảm hơn 90% tỷ lệ chuyển tuyến từ bệnh viện vệ tinh lên BV hạt nhân nhóm bệnh liên quan đến kỹ thuật đã được chuyển giao.

Trong việc thiết lập được hệ thống công nghệ thông tin và kết nối giữa BV hạt nhân với BV vệ tinh, tăng cường ứng dụng CNTT (Telemedicine) trong hoạt động đề án, Bộ Y tế yêu cầu bảo đảm 100% các BV vệ tinh thường xuyên kết nối đào tạo, hội thảo, tư vấn khám bệnh, hội chẩn từ xa. Hiện đã có hai hệ thống tại BV Việt Đức và BV Bạch Mai hoạt động rất hiệu quả.

PGS.TS Nguyễn Đức Tiến, Bệnh viện Việt Đức, cho biết, hệ thống truyền hình trực tuyến triển khai tại BV Việt Đức từ năm 2010 đến nay đã mang lại hiệu quả rõ ràng trong việc tư vấn, hỗ trợ chuyên môn, đào tạo từ xa cho các bệnh viện vệ tinh. Hiện có 20 điểm kết nối với các bệnh viện, thực hiện giao ban trực tuyến; hội chẩn, tư vấn trực tuyến phẫu thuật từ xa… giúp cho nhiều ca phẫu thuật khó về ngoại chấn thương được thực hiện ở tuyến dưới mà không phải chuyển tuyến.

Công tác chỉ đạo tuyến cũng đã góp phần nâng cao chất lượng KCB cho tuyến dưới, nhất là đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa với gần 9.000 lượt cán bộ đi hỗ trợ tuyến dưới trong đó: Trung ương hỗ trợ tuyến tỉnh gần 4.000; tỉnh hỗ trợ huyện 2.000, huyện hỗ trợ tuyến xã 3.000 lượt cán bộ. Đã chuyển giao hơn 4.689 thuật và hầu hết các kỹ thuật được đánh giá là thực hiện tốt.

Điều này đã giúp các bệnh viện tuyến dưới làm chủ được kỹ thuật; trực tiếp KCB cho hơn 4,5 triệu người bệnh, phẫu thuật hơn 1.600 ca, cứu sống hàng trăm người bệnh mắc bệnh hiểm nghèo nếu đưa về tuyến trên thì nguy cơ tử vong cao.

“Công tác chỉ đạo đã góp phần giảm tải từ xa cho bệnh viện tuyến trên nhất là các bệnh viện tuyến TƯ thể hiện ở chỗ làm giảm tỷ lệ chuyển lên tuyến trên không phù hợp trung bình khoảng 30%, ở một số địa phương những loại bệnh trước đây có tỷ lệ chuyển tuyến cao nay đã không còn người bệnh chuyển tuyến như ung bướu, chấn thương, tim mạch...”, Cục trưởng Cục Quản lý KCB Lương Ngọc Khuê cho hay.

Về đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh”, từ năm 2008 đến tháng 9-2018 đã có hơn 10.000 lượt cán bộ được cử đi luân phiên, đào tạo chuyển giao kỹ thuật cho bệnh viện tỉnh. Các lĩnh vực chuyên môn đã triển khai thực hiện chuyển giao kỹ thuật ở 26 chuyên ngành, gồm: nội, ngoại, sản, nhi, hồi sức cấp cứu, gây mê hồi sức…

Ngoài các chuyên ngành trên, một số bệnh viện còn cử cán bộ xuống hỗ trợ đào tạo về quản lý bệnh viện, sửa chữa trang thiết bị y tế, xét nghiệm... Theo báo cáo của các bệnh viện Trung ương và các bệnh viện tuyến cuối, có hơn 5.400 kỹ thuật được chuyển giao, hầu hết các kỹ thuật bệnh viện tuyến dưới đã làm chủ được và thực hiện tốt sau khi nhận chuyển giao.

Có thể bạn quan tâm

Tài liệu truyền thông về những điều cần biết về bệnh do não mô cầu. (Ảnh: Minh họa)

Phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh do não mô cầu có ý nghĩa quan trọng hạn chế biến chứng nặng và tử vong

Tối 17/10, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết, theo thông tin của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 14-16/10/2026, tại Trường trung học cơ sở Hai Bà Trưng (xã Hiệp Phước), Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận chùm ba ca bệnh nhiễm trùng do não mô cầu trong đó có một trường hợp tử vong. 

Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu thuộc tỉnh Cà Mau. (Ảnh: TRỌNG DUY)

Cà Mau: Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu được công nhận đạt hạng I

Với hành trình gần 120 năm xây dựng và phát triển, hiện nay, Bệnh viện đa khoa Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau) là một trong những cơ sở khám, chữa bệnh quan trọng, hàng đầu của tỉnh. Bệnh viện hiện có hơn 1.000 nhân sự, trong đó gần 260 bác sĩ, quy mô hơn 1.000 giường bệnh.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Công Hựu, Giám đốc Bệnh viện E phát biểu tại lễ kỷ niệm. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Bệnh viện E tạo bước tiến mới trong điều trị kỹ thuật cao

Đánh dấu chặng đường 59 năm xây dựng và phát triển, Bệnh viện E ghi nhận những thành tựu mới trong lĩnh vực ghép tạng, hồi sức tích cực và chẩn đoán hình ảnh. Đặc biệt, năm 2026, bệnh viện triển khai thành công ca lấy đa tạng và ghép thận đầu tiên, đồng thời phối hợp điều phối tạng hiến để ghép cho 6 người bệnh tại 3 miền.

Lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Ea M'Droh đến tận nhà dân tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia khám sức khỏe định kỳ. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Hơn 82,42% dân số tỉnh Đắk Lắk được khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc

Mặc dù là tỉnh có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân số đông, sinh sống phân tán và thời tiết không thuận lợi, nhưng thời gian qua các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đẩy mạnh công tác khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người dân, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Người dân mua sắm thực phẩm tại siêu thị. (Ảnh: ĐỖ THOA)

Bộ Y tế từng bước chuẩn bị nền tảng quản lý an toàn thực phẩm dựa trên phân tích nguy cơ

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đánh dấu bước đột phá về đổi mới tư duy quản lý an toàn thực phẩm, chuyển từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ, ứng phó bị động sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm dựa trên nguy cơ, chủ động phòng ngừa từ sớm thông qua phân tích nguy cơ.