Đây là dấu mốc quan trọng trong phát triển năng lực chuyên môn, mở ra cơ hội tiếp cận kỹ thuật điều trị tim mạch chuyên sâu cho người bệnh tại địa phương. Ca phẫu thuật được thực hiện bởi ê-kíp bác sĩ Trung tâm Tim mạch, Khoa Ngoại Tổng hợp của Bệnh viện C Đà Nẵng, phối hợp đoàn chuyên gia Bệnh viện Trung ương Huế.
Bệnh nhân đầu tiên được phẫu thuật là ông V.S. (83 tuổi, trú thành phố Đà Nẵng), được chẩn đoán mắc bệnh lý mạch vành kèm tăng huyết áp.
Theo hồ sơ bệnh án, tháng 1/2026, người bệnh bị nhồi máu cơ tim và được can thiệp cấp cứu động mạch vành phải. Đến tháng 3/2026, bệnh nhân được phát hiện hẹp nặng, kèm vôi hóa ở thân chung động mạch vành trái và động mạch liên thất trước. Lần can thiệp thân chung và động mạch liên thất trước ngày 20/3 không thành công, đòi hỏi phải lựa chọn phương án điều trị phù hợp hơn.
Theo các bác sĩ Bệnh viện C Đà Nẵng, để chuẩn bị triển khai kỹ thuật này, từ giữa năm 2022, bệnh viện đã cử 21 cán bộ y tế, gồm bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê hồi sức, điều dưỡng và kỹ thuật viên đến Bệnh viện Trung ương Huế đào tạo, thực hành chuyên sâu.
Trong tháng 9 và đến giữa đầu tháng 10/2026, ê-kíp tiếp tục được cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phối hợp liên chuyên khoa, chuẩn bị cho ca phẫu thuật đầu tiên.
Ngày 11/10, chuyên gia hai bệnh viện trực tiếp hội chẩn, đánh giá toàn diện kết quả lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh để lựa chọn phương án điều trị phù hợp.
Qua hội chẩn, các bác sĩ xem xét 3 phương án gồm tiếp tục điều trị nội khoa tối ưu, can thiệp lại động mạch vành trái bằng kỹ thuật khoan cắt mảng xơ vữa vôi hóa trong lòng mạch vành (Rotablator), hoặc phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành trái.
Điểm EuroSCORE II (thang điểm ước tính nguy cơ sau phẫu thuật tim) của người bệnh là 1,06%, thuộc nhóm nguy cơ phẫu thuật thấp. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để các chuyên gia cân nhắc chỉ định phẫu thuật.
Đến nay, sau phẫu thuật, bệnh nhân tỉnh táo, chức năng tim tốt, được rút ống nội khí quản, cai máy thở và tự thở.