Đưa “Hồn Trương Ba da hàng thịt” lên sân khấu rối: Không chỉ là múa rối

NDĐT – Các nghệ sĩ Nhà hát múa rối Thăng Long đã một lần nữa thỏa sức sáng tạo với vở kịch kinh điển của cố tác giả Lưu Quang Vũ, khi “biến hóa” câu chuyện đã vô cùng quen thuộc với khán giả này trở thành một tác phẩm múa rối với rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, vừa chuyển tải được những thông điệp không bao giờ cũ của tác giả, vừa trở thành một món ăn tinh thần mới lạ, hấp dẫn dành cho khán giả.

Cảnh ngôi chợ trong vở diễn.
Cảnh ngôi chợ trong vở diễn.

Đạo diễn Lê Chí Kiên cho biết, anh đã ấp ủ ý tưởng về vở múa rối này trong chín năm ròng, khi đang học đạo diễn năm 2007. Anh nói: “Tôi chợt nảy ra ý định kết hợp vở diễn giữa người với rối, vì xưa nay vẫn thấy vở này được nhiều loại hình sân khấu đưa lên. Hiện nay nhu cầu của khán giả khá cao, nếu không có cái mới lạ, hấp dẫn thì khó có thể thu hút được họ”.

Khi bắt tay vào hiện thực hóa ý tưởng của mình, đạo diễn Lê Chí Kiên đã gặp phải không ít lo ngại của mọi người chung quanh. Anh kể: “Khi đến gặp gia đình cố tác giả Lưu Quang Vũ để nói chuyện về kịch bản, con trai của ông là Lưu Minh Vũ, vốn đã chơi với tôi khá lâu cũng tỏ ý băn khoăn không hiểu tôi sẽ đưa kịch bản này sang các con rối như thế nào. Khi đó tôi cũng chỉ nói với Vũ là yên tâm, cơ bản là gia đình Vũ cho phép tôi thực hiện về mặt bản quyền, còn phần thực hiện, tôi sẽ cho ra một “Hồn Trương Ba, da hàng thịt không giống ai hết”. Với đạo diễn, khi đó anh tự nhủ rằng nếu làm giống với các thầy thì không thể nào bằng các thầy được. Chính vì thế phải nghĩ ra một ngôn ngữ mới cho vở kịch.

Sân khấu hình bàn cờ âm dương.

Để có được một không gian của “Hồn Trương Ba…” mới mẻ, đạo diễn Lê Chí Kiên đã phải mất hai tháng ngồi bàn với họa sĩ sân khấu mới ra được hình ảnh bàn cờ âm dương. Anh nói: “Ban đầu chúng tôi định xây dựng vở kịch trên hình ảnh một chiếc bánh đa, vì muốn đưa vở kịch vào trong đời sống của không gian chợ, một không gian hỗn độn. Anh đã bàn với NSND Ngọc Bích, đưa ra ý tưởng muốn có những âm thanh đương đại ngoài đời đưa vào chứ không muốn một bài nhạc đánh sẵn, và trên một nền chợ, với hình ảnh chỗ này bán hàng, chỗ kia hát xẩm, chỗ nọ ăn mày… Tất cả bắt vào để nói lên một câu chuyện đã cũ.

Những âm thanh của chợ búa, tiếng guốc gõ, dép lê, tiếng rao… tất cả đã được đạo diễn Lê Chí Kiên tạo thành một bản nhạc lạ lẫm mà rất thú vị ở ngay đầu vở kịch. Anh nói: “Tôi muốn gửi gắm mong muốn có một xã hội tốt đẹp, có trên có dưới, có tôn ti trật tự. Khi tất cả mọi người đã gõ guốc đều đều tức là xã hội đã hòa nhập với nhau và đã có một trật tự nhất định”.

Xây dựng một vở rối “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, theo đạo diễn Lê Chí Kiên, sẽ khó hơn rất nhiều đối với các loại hình sân khấu khác, bởi con rối là vật vô tri vô giác, nên rất khó có những biểu cảm cảm xúc cho khán giả. Đó cũng là lý do mà anh ấp ủ vở diễn trong suốt chín năm trời. “Làm không cẩn thận thì lấy lại hình ảnh rất khó, bởi vì tôi cũng hoạt động nghệ thuật lâu rồi, và cũng từng giành nhiều giải thưởng” – anh nói.

Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt.

Vở rối “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được dàn dựng với chất liệu là rối cạn, kết hợp với diễn viên diễn trực tiếp, sử dụng nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như xẩm, chèo, hát chầu văn… Tổng thể vở rối là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa người thật và con rối, giữa ba tầng sân khấu đại diện cho tầng trời, cho căn nhà của hai gia đình Trương Ba và anh hàng thịt, và cho xã hội, ở đây là chợ, nơi gặp gỡ của mọi người, cũng có khi là thế giới của những âm hồn. Âm thanh, ánh sáng được sử dụng khá ấn tượng. Mặc dù đôi chỗ vẫn còn những điểm cần phải chỉnh sửa lại đôi chút, nhưng vở rối đã thực sự tỏ ra có sức hấp dẫn, nhận được lời khen từ phía Hội đồng nghệ thuật.

Đạo diễn Lê Chí Kiên và các nghệ sĩ.

NSND Nguyễn Hoàng Tuấn, Giám đốc Nhà hát múa rối Thăng Long cho biết, khi quyết định thực hiện dự án này, Hội đồng nghệ thuật Nhà hát cũng thấy rất “liều” bởi đây là vở diễn nổi tiếng, đã rất quen thuộc với khán giả từ bao năm nay, cũng đã đem lại thành công cho rất nhiều loại hình nghệ thuật. Anhc ho biết: “Chúng tôi đã phải tính toán rất kỹ, trước tiên là kịch bản, vì nguyên gốc là 90 trang, phải rút lại còn 30 trang, phải tìm, chọn những hình ảnh, lớp lang, màn diễn sao cho cô đọng nhất mà vẫn phải đầy đủ ý nghĩa. Khâu tìm cách thể hiện trên con rối cũng rất khó, làm sao phải vừa mới, lạ mà vẫn phải phù hợp và làm nổi bật được đặc trưng của nghệ thuật múa rối”.

Đối với người đứng đầu Nhà hát, vừa mang trách nhiệm “chủ tài khoản” đầu tư cho dự án, vừa là cố vấn nghệ thuật, Giám đốc Nguyễn Hoàng Tuấn chia sẻ rằng anh chỉ có thể thở phào nhẹ nhõm khi cảnh cuối cùng của vở diễn khép lại, và Hội đồng nghệ thuật dành cho vở diễn những đánh giá rất lạc quan. Đây sẽ là vở diễn đại diện cho Nhà hát đi dự Liên hoan sân khấu thử nghiệm lần thứ ba vào tháng 11 năm nay.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.