Tại Đại hội Tim mạch toàn quốc lần thứ 20 do Hội Tim mạch học Việt Nam tổ chức với sự đồng hành của GSK Việt Nam, các chuyên gia đầu ngành đã cập nhật những tiến bộ mới trong quản lý toàn diện bệnh tim mạch. Các phiên chuyên đề cũng đã thảo luận về vai trò quan trọng của dự phòng chủ động các bệnh truyền nhiễm đối với bệnh nhân tim mạch.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 200.000 trường hợp tử vong liên quan đến bệnh tim mạch. Đáng chú ý, nhóm người bệnh tim mạch lớn tuổi và đa bệnh nền là nhóm nguy cơ cao của nhiễm trùng nặng và mất bù tim mạch.
Tiến sĩ, bác sĩ Vũ Quỳnh Nga, Bệnh viện Tim Hà Nội chia sẻ nhận định từ kinh nghiệm lâm sàng thực tế trên bệnh nhân nữ 67 tuổi bị suy tim, tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Trước khi nhập viện, người bệnh đang ổn định với phác đồ điều trị và không phải nhập viện trong vòng 6 tháng qua. Tuy nhiên, bệnh nhân đột ngột xuất hiện các triệu chứng ban đầu tưởng như cảm cúm thông thường như ho, mệt và khó thở nhẹ trong vòng một tuần và tình trạng sức khỏe đã diễn tiến nặng nhanh chóng làm bệnh nhân cần nhập viện. Khi nhập viện, người bệnh đồng thời mắc các dấu hiệu của nhiễm trùng hô hấp cấp và đột ngột suy tim cấp trong thời gian ngắn. Kết quả xét nghiệm tác nhân nhiễm trùng hô hấp đã ghi nhận tình trạng nhiễm virus hợp bào hô hấp. Trường hợp này cho thấy một đợt nhiễm trùng hô hấp có thể trở thành yếu tố khởi phát khiến người có bệnh lý tim mạch diễn tiến nghiêm trọng hơn và dẫn đến nhập viện.
Tiến sĩ, bác sĩ Vũ Quỳnh Nga cho biết thêm: Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ nhập viện do virus hợp bào hô hấp ở người từ 65 tuổi trở lên có thể tăng đến 6,5 lần ở người có bệnh động mạch vành.
Ngoài virus hợp bào hô hấp, một chủ đề khác được các chuyên gia trao đổi tại hội nghị, dựa trên kinh nghiệm lâm sàng là vai trò của dự phòng Zona thần kinh ở những người bệnh có nguy cơ cao. Từ kinh nghiệm điều trị cho một bệnh nhân nam sinh năm 1958 đã trải qua ghép tim và duy trì điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài mắc Zona thần kinh, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Tất Đạt, Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng Zona và có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Tất Đạt cho biết người mắc bệnh tim mạch có nguy cơ mắc Zona thần kinh cao hơn khoảng 34%; gánh nặng của Zona thần kinh không chỉ nằm ở các tổn thương da cấp tính mà còn ở nguy cơ đau thần kinh sau Zona kéo dài... Đây cũng là biến chứng thường gặp của bệnh Zona.
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch, Trường đại học Y Hà Nội, Viện trưởng Viện Tim mạch (Bệnh viện 19-8) cho rằng: Một đợt nhiễm trùng có thể xóa đi thành quả của nhiều tháng kiểm soát bệnh tim mạch. Chúng ta cần bắt đầu với chiến lược “quản lý và dự phòng toàn diện cho bệnh nhân tim mạch”. Trong đó, tiêm chủng được coi như một trụ cột trong quản lý toàn diện và là một phần của chăm sóc bệnh nhân tim mạch.
Điều này hoàn toàn phù hợp với các đồng thuận và hướng dẫn chuyên môn quốc tế cũng như trong nước. Tuyên bố đồng thuận lâm sàng của Hiệp Hội Tim mạch châu Âu (ESC) và Khuyến cáo của Hội Tim mạch học Hoa kỳ (ACC) năm 2025 đều xem tiêm chủng là một phần quan trọng trong chiến lược dự phòng tim mạch toàn diện cho người bệnh nguy cơ cao.
Tại Việt Nam, Quyết định 1983/QĐ-BYT của Bộ Y tế cũng đề cập vai trò của tiêm chủng trong dự phòng các đợt cấp và biến chứng tim mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ gây ra do nhiễm trùng.
Trong khuyến cáo của các hội tim mạch đã chỉ rõ: tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng và thường đi kèm nhiều bệnh đồng mắc. Nhiễm trùng, nhất là nhiễm trùng hô hấp, có thể làm tăng viêm hệ thống, stress oxy hóa, rối loạn chức năng nội mô và tình trạng tăng đông, từ đó gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ và tử vong tim mạch.
Các chuyên gia khuyến cáo người bệnh tăng huyết áp nên được đánh giá tình trạng tiêm chủng định kỳ dựa trên tuổi, bệnh đồng mắc, nguy cơ nhiễm trùng và tiền sử tiêm chủng. Các vaccine phế cầu, RSV, cúm, bạch hầu-uốn ván-ho gà, viêm gan B và các vaccine khác được chỉ định theo khuyến cáo hiện hành và các yếu tố nguy cơ cụ thể của từng cá nhân.