Đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên vươn mình

Thế giới đang bước vào giai đoạn biến chuyển chưa từng thấy. Những cuộc cách mạng công nghệ về trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và y sinh học đang đồng thời định hình lại trật tự toàn cầu. Trong bối cảnh này, quốc gia nào nắm bắt được công nghệ mới không chỉ rút ngắn con đường đến thịnh vượng mà còn củng cố nền tảng bảo vệ độc lập, chủ quyền. Ở ngưỡng cửa phát triển mới, Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao lưu cùng sinh viên tại Lễ phát động “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, vào cuối tháng 4 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. (Ảnh TRẦN HẢI)
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao lưu cùng sinh viên tại Lễ phát động “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, vào cuối tháng 4 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. (Ảnh TRẦN HẢI)

Kể từ Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận về khoa học-công nghệ. Từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, chúng ta đã định vị trên bản đồ công nghệ với một số thành tựu như sản xuất vệ tinh NanoDragon, vắc-xin Covid-19 nội địa và tạo dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong một số lĩnh vực. Tuy nhiên, nhìn rộng ra, khoảng cách với khu vực và thế giới vẫn còn lớn. Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (GII) 2024 xếp Việt Nam ở vị trí thứ 44/133 quốc gia - cải thiện so với trước nhưng vẫn cách xa so với Singapore (4) hay Malaysia (33).

Ba trở lực chính cho phát triển công nghệ ở Việt Nam là hạ tầng, nhân lực và môi trường pháp lý. Về hạ tầng, các phòng thí nghiệm từ đại học, viện nghiên cứu đến doanh nghiệp chưa được đầu tư thích đáng. Thiết bị hiện đại phải nhập khẩu với chi phí cao, trong khi bảo trì và nâng cấp gặp nhiều khó khăn.

Nhân lực đang là điểm nghẽn nghiêm trọng. Mặc dù Việt Nam có lợi thế dân số trẻ, nhưng tỷ lệ nhân lực được đào tạo bài bản về khoa học-công nghệ còn hạn chế. Theo số liệu của World Bank, Việt Nam có khoảng 800 nhà nghiên cứu trên một triệu dân, thấp hơn nhiều so các nước mạnh về công nghệ trong khu vực như Singapore (7.900), Hàn Quốc (9.400), hay Trung Quốc (1.800). Vấn đề này hiện hữu rõ nhất trong ngành công nghiệp bán dẫn, khi hiện tại Việt Nam mới chỉ có hơn 5.000 kỹ sư, trong khi nhu cầu thực tế lên đến hơn 50.000 người.

Bên cạnh đó, môi trường pháp lý chưa thật sự tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo phát triển. Những rào cản về thủ tục hành chính, quy định bảo hộ sở hữu trí tuệ, cơ chế đầu tư mạo hiểm còn nhiều bất cập. Đặc biệt, các cơ chế đặc thù cho hoạt động nghiên cứu phát triển vẫn chưa đủ linh hoạt để khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro.

Để khơi dòng cho tiến bộ công nghệ và gạt bỏ ba trở lực này, trước hết cần tái định hình vai trò của nhà nước. Yêu cầu đầu tiên là cần kiến tạo môi trường chính sách thuận lợi với khung pháp lý riêng cho đổi mới sáng tạo, tập trung vào cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình kinh doanh và công nghệ mới. Thêm vào đó, cần tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ - vấn đề chưa được quan tâm đúng mức ở nước ta. Một môi trường pháp lý cởi mở, khoan dung với thất bại và khuyến khích sáng tạo sẽ là chất xúc tác cho hệ sinh thái công nghệ bền vững.

Không chỉ vậy, Nhà nước cần chủ động đóng vai trò “bà đỡ” cho khoa học-công nghệ. Tổng Bí thư Tô lâm đã đề xuất nâng mức chi tiêu cho khoa học-công nghệ lên ít nhất bằng 3% chi ngân sách. Mục tiêu này tuy thách thức, nhưng rất cần thiết nếu Việt Nam muốn “đi tắt đón đầu” về phát triển công nghệ.

Song song với việc tăng đầu tư, cần thiết lập các khu công nghệ cao, các trung tâm đổi mới sáng tạo và chương trình đặt hàng nghiên cứu cho doanh nghiệp và viện, trường trong nước. Singapore đã chứng minh tính hiệu quả của mô hình này khi xây dựng các “vườn ươm công nghệ” từ hơn hai thập kỷ trước, thiếp lập nền tảng vững chắc cho nền kinh tế tri thức số một châu Á hiện nay.

Trong thế giới cạnh tranh gay gắt ngày nay, là nước đi sau, Việt Nam cần tạo môi trường hấp dẫn để trở thành điểm đến thu hút công nghệ hàng đầu. Những sáng kiến như chương trình cư trú điện tử (e-Residency) của Estonia hay thị thực khởi nghiệp của Dubai cho thấy một quốc gia nhỏ cũng có thể hấp dẫn tinh hoa toàn cầu nếu có chính sách đủ linh hoạt. Thu hút chuyên gia quốc tế không chỉ mang lại tài năng, mà còn mở rộng cánh cửa tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến cho nền kinh tế.

Tại Lễ phát động phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, sáng 24/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu, người dân và doanh nghiệp mới là chủ thể chính của tiến bộ công nghệ, nhà nước không thể làm thay.

Đổi mới đòi hỏi phải chấp nhận thất bại, khuyến khích thử nghiệm, và tôn vinh những ai dám đi những con đường chưa ai từng đi. Chính vì vậy, ngay từ bản thân của mỗi cá nhân và tổ chức, cần thay đổi tinh thần sợ sai, sợ chịu trách nhiệm, sang tư duy cầu tiến, chủ động sáng tạo, tìm tòi và phát hiện cái mới. Nhiệm vụ của nhà nước và xã hội là nâng đỡ và bảo vệ tinh thần đó.

Đổi mới sáng tạo, xét đến cùng, không phải là cuộc đua nước rút mà là một hành trình dài hạn. Cơ hội chỉ dành cho những quốc gia nào chuẩn bị tốt từ thể chế, giáo dục, đến tài chính và quốc tế hóa. Trong lịch sử, Cách mạng công nghiệp đưa Anh trở thành “công xưởng thế giới”, cách mạng tin học đưa Mỹ lên vị trí siêu cường. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chứng kiến sự trỗi dậy của các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc. Hôm nay, khi trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng sạch đang mở ra những chân trời mới, Việt Nam cũng đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá.

Để tận dụng được cơ hội này, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, kết hợp lực đẩy nội địa - từ doanh nghiệp, trường viện, cộng đồng đổi mới sáng tạo trong nước - với lực kéo quốc tế - thông qua học hỏi, thu hút công nghệ và nhân tài toàn cầu. Nếu nhanh chóng hành động, chúng ta hoàn toàn có thể đặt nền móng vững chắc để bước vào nhóm quốc gia phát triển vào năm 2045 như mục tiêu đề ra.

Hiện nay, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam mới chiếm chưa đến 0,8% tổng chi ngân sách, tương đương khoảng 0,5% GDP - thấp hơn nhiều so với mức trung bình 2,7% của các nước OECD, 5,2% của Hàn Quốc và 3,6% của Nhật Bản.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà phát biểu trong phiên thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế-xã hội tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Phạm Thắng

Tăng trưởng kinh tế cần thật sự lan tỏa đến đời sống Nhân dân

Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, không chỉ là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, mà những vấn đề rất cụ thể như: bàn cách tháo gỡ điểm nghẽn từ cơ sở, khơi thông nguồn lực hay xác định rõ trách nhiệm thực thi cũng đã được đặt lên bàn nghị sự. Bởi theo các đại biểu, đích đến của mọi quyết sách đều phải và cần được đo bằng chuyển biến thực chất trong sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.

Khi Nhà nước mở rộng không gian phát triển bằng các thể chế vượt trội, thì chính lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ là người trực tiếp chuyển hóa các cơ hội đó thành giá trị mới cho xã hội. Ảnh: Hương Nguyên

Giao điểm của kiến tạo phát triển thực chất

Không gian chính sách dành cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp đã rộng mở hơn trước. Song, điều doanh nghiệp cần còn là việc những chính sách đó thật sự ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng, để họ có thể yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn trong một môi trường kinh doanh có thể dự báo được.

TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi

Khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi ba nền tảng: năng lực quản trị, cơ hội thị trường và giải pháp tài chính phù hợp được củng cố, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sẽ có điều kiện tiếp cận, hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, từng bước mở rộng quy mô, đóng góp vào sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó là nhận định của TS Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần.

PGS, TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam 2026 (VCSF 2026), diễn ra tại Hà Nội ngày 5/10. Ảnh: Nguyễn Hùng

Định hình hành trình tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững

Năm 2026 mở ra yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung: Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô, mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Điều đáng nói, đích đến của tăng trưởng cao, tăng trưởng hai con số như mục tiêu đã đề ra phải được đặt trên một nền tảng bền vững và doanh nghiệp chính là chủ thể trung tâm của mô hình này.

Trên các màn hình lớn tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE), Mỹ, từ phiên giao dịch ngày 21/9, hình ảnh cờ đỏ sao vàng cùng lời chúc mừng Việt Nam chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi đã xuất hiện.

Dấu mốc quan trọng, củng cố niềm tin thị trường

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức tham gia rổ chỉ số cổ phiếu toàn cầu FTSE Russell Global Equity Index Series (FTSE GEIS) vào ngày 21/9 vừa qua, mở ra cơ hội lớn thu hút dòng vốn quốc tế. Song, khả năng tận dụng cơ hội này không chỉ phụ thuộc vào những cải cách từ phía cơ quan quản lý, mà còn nằm ở chính nội lực của các doanh nghiệp niêm yết.

Dư địa thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Ảnh minh hoạ

Nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi

Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.

Mặc dù đầu tư FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn đang đứng ngoài chuỗi sản xuất của khu vực FDI. Ảnh: Danh Lam

Chính sách thuế cần tạo động lực tăng trưởng mới

Khi dư địa cạnh tranh bằng nhân công giá rẻ hay ưu đãi thuế suất ngày càng thu hẹp, chính sách thuế cần chuyển mạnh sang khuyến khích tăng trưởng nhờ đổi mới công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Ngành điện cần có một cơ chế đủ minh bạch để nhà đầu tư tư nhân yên tâm bỏ vốn, cùng chung tay, góp sức phát triển hệ thống điện, góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: Đạt Thành

Hóa giải thách thức để điện tiến trước một bước

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, được xem xét tại Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dự kiến từ ngày 21-25/9), nhằm thúc đẩy phát triển ngành năng lượng thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Đây cũng là điểm mấu chốt để ngành điện chuyển từ tư duy độc quyền tự nhiên sang phát triển thị trường điện cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả.

Năm 2026, Bộ Tài chính sẽ kịp thời điều chỉnh kế hoạch vốn từ các dự án chậm triển khai, không có khả năng giải ngân sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân tốt hơn.

Không để tiếp diễn tình trạng “vốn chờ dự án”

Nguồn lực đầu tư công trong năm 2026 rất lớn, khi mục tiêu giải ngân 100% vốn kế hoạch đang được Chính phủ tiếp tục thúc đẩy nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Trong bối cảnh đó, mỗi đồng vốn đầu tư công chậm ra đến công trường không chỉ làm chậm một dự án, mà còn làm giảm hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp toàn thể trên hội trường ngày 11/8, góp ý cho dự thảo Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Quốc Khánh

Tạo khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn

Đánh giá cao sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị nhằm luật hóa các cơ chế, các đại biểu Quốc hội thống nhất cho rằng, đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhằm hình thành một khung pháp lý thống nhất, dài hạn, có tầm nhìn. Đồng thời tạo cơ sở để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động của chính quyền đô thị.

Dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng sẽ xây dựng cơ chế quản lý tài chính công đồng bộ, hiệu quả và phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Bước chuyển trong quản trị tài chính công quốc gia

Với tinh thần xuyên suốt là gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư công với cân đối nguồn lực tài chính quốc gia, dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến ngay tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVi (dự kiến diễn ra từ ngày 3 đến 24/8), dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được kỳ vọng tạo bước chuyển biến căn bản trong quản trị tài chính công vì ổn định kinh tế vĩ mô, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Giai đoạn 2020-2025, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng của VIMC đạt bình quân hơn 130 triệu tấn/năm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế biển của đất nước.

Kiến tạo tầm nhìn toàn diện

Mang trên mình sứ mệnh dẫn dắt các thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, dành mọi điều kiện tốt nhất để phát triển.

Hội nghị trực tuyến, tổng kết cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức chiều 13/7/2026.

Bảo đảm dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên quan trọng

Định kỳ thực hiện 5 năm một lần, cuộc Tổng điều tra kinh tế lần thứ 7 năm 2026 mang sứ mệnh lịch sử khắc họa bức tranh toàn cảnh về một nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số. Kết quả thu được là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội dài hạn.

Hội thảo “Tăng trưởng 2 con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp tổ chức sáng 8/7.

Tạo sức đẩy cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mới, mà còn phải giải phóng được những nguồn lực đang bị ách tắc.

Thị trường bất động sản đang chuyển dịch dần sang một cơ chế cạnh tranh mới, không còn là thiếu nguồn cung, không cố sở hữu nhà bằng mọi giá mà là khả năng hấp thụ của dòng tiền. Ảnh HẢI NAM

Tái định hình thị trường bất động sản

Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản bước vào nửa cuối năm 2026 với một trạng thái hoàn toàn khác, khi thanh khoản suy giảm, áp lực lãi vay gia tăng, hiện tượng cắt lỗ xuất hiện ở một số phân khúc. Điều được quan tâm nhất hiện nay là giá bất động sản sẽ diễn biến ra sao, khi các yếu tố cấu thành giá thành như chi phí đất đai, vật liệu xây dựng, nhân công, hạ tầng và chi phí vốn đều ở mức cao?

Nhiều thủ tục kiểm tra công tác nghiệm thu công trình cấp hai trở xuống đã được chuyển giao hoàn toàn từ Bộ về cho các Sở Xây dựng địa phương thực hiện.

Quyết tâm cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh

Những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý đang tạo kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian và mạnh dạn mở rộng đầu tư.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng phục vụ sản xuất như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (hơn 99,2 tỷ USD); máy móc, thiết bị và phụ tùng (hơn 31,1 tỷ USD).

Sức bật mới của nền kinh tế

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh, việc nhập khẩu gia tăng hơn xuất khẩu, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực. Bởi phần lớn mức tăng nhập khẩu đến từ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư, là chỉ dấu cho thấy cộng đồng doanh nghiệp đang mở rộng năng lực sản xuất để chuẩn bị cho các đơn hàng trong tương lai.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư, kinh doanh, song kèm theo đó là yêu cầu cam kết về công nghệ, R&D, đào tạo nhân lực người Việt Nam.

Kiến tạo nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng bền vững. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW, vừa được ban hành, đánh dấu bước chuyển tư duy từ “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và sản xuất hàng đầu châu Á.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Minh bạch truy xuất nguồn gốc nông sản xuất khẩu

Việc thí điểm triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của ngành nông nghiệp Việt Nam trong xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, chuẩn hóa dữ liệu và thích ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu. Đây cũng là động thái tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho nông sản Việt Nam trong giai đoạn mới.

Là nguồn nguyên liệu chủ lực trong sản xuất E10, nhu cầu mía phục vụ sản xuất ethanol có thể đạt 14-20 triệu tấn mỗi năm.

E10 - Cơ hội đột phá với kinh tế sinh học

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 RON95-III (E10) được bán rộng rãi trên thị trường, thay thế dần xăng khoáng RON95-III. Động thái này được xem là bước tiến lớn trong lộ trình chuyển đổi sang nhiên liệu sạch và giảm phát thải.