Có thực lực mới nắm bắt được thời cơ

Có thực lực mới nắm bắt được thời cơ

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình Đảng chuẩn bị lâu dài về đường lối, lực lượng và thực lực để chớp đúng thời cơ lịch sử. Bài học ấy hôm nay đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tạo thế, tạo lực, chủ động nắm bắt và tạo ra thời cơ mới để đất nước phát triển hùng cường.

Mỗi dịp tháng Tám và Quốc khánh 2/9, nhìn lại mùa thu lịch sử năm 1945, chúng ta thường nhắc tới một trong những bài học đặc sắc nhất của Cách mạng Việt Nam: nhận định đúng và chớp thời cơ giành thắng lợi. Sau 81 năm, bài học ấy vẫn còn nguyên tính thời sự, nhưng cũng nhắc chúng ta rằng: thời cơ không tự mình làm nên thắng lợi. Một dân tộc chỉ có thể nắm bắt thời cơ khi đã chuẩn bị đủ thực lực, đủ ý chí, đủ năng lực tổ chức và có một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh để nhận ra thời điểm phải hành động. Nếu thời cơ là cánh cửa lịch sử được mở ra bởi những điều kiện khách quan thì thực lực chính là khả năng tự chủ bước qua cánh cửa ấy.

Đó là bài học của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Và đó cũng là một bài học đặc biệt có ý nghĩa với Việt Nam hôm nay, khi đất nước đang đứng trước một thời cơ phát triển mới, với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, hùng cường vào giữa thế kỷ XXI.

Nhìn lại 81 năm về trước, thời cơ trực tiếp của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 xuất hiện rất nhanh. Chiến tranh thế giới thứ hai đi đến hồi kết, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, bộ máy thống trị cũ khủng hoảng. Một khoảng trống quyền lực xuất hiện nhưng không kéo dài. Hành động quá sớm khi lực lượng chưa đủ có thể phải trả giá; chậm trễ, thời cơ cũng có thể qua đi. Bản lĩnh của Đảng thể hiện ở việc nhận định đúng tình thế và quyết định hành động đúng thời điểm. Nhưng quyết định lịch sử trong những ngày tháng Tám năm ấy không phải được tạo nên chỉ trong vài ngày, mà là kết quả của 15 năm chuẩn bị kể từ khi Đảng ra đời năm 1930. Đó là quá trình xác lập và hoàn thiện đường lối giải phóng dân tộc; xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, gây dựng cơ sở cách mạng; tập hợp, giác ngộ quần chúng; xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, căn cứ địa và từng bước phát triển lực lượng vũ trang.

vn-tuyen-truyen-giai-phong.jpg
Ngày 22/12/1944, Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ở Cao Bằng do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy, tạo ra một cục diện mới trên mặt trận đấu tranh vũ trang cách mạng. (Ảnh: TTXVN)

Việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22/12/1944 là một bước chuẩn bị quan trọng về lực lượng quân sự cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Đến tháng Tám năm 1945, lực lượng chính trị rộng lớn của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang và sự lãnh đạo thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để chuyển thời cơ thành thắng lợi. Bởi vậy, nếu chỉ nói Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ nghệ thuật chớp thời cơ thì vẫn chưa đầy đủ. Đằng sau nghệ thuật chớp thời cơ là năng lực tạo lập thực lực để có thể chớp được thời cơ.

Nhìn từ góc độ này, vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám không chỉ thể hiện ở quyết định Tổng khởi nghĩa đúng thời điểm. Sâu xa hơn, đó là năng lực nhìn thấy xu thế vận động của lịch sử, chuẩn bị lực lượng từ trước, tập hợp sức mạnh của nhân dân và khi điều kiện chín muồi thì chuyển những nguồn lực đã tích lũy thành hành động quyết định. Đây là bài học lịch sử, nhưng cũng là câu hỏi rất thời sự của hôm nay.

Năm 1945, thời cơ lớn nhất của dân tộc là giành độc lập. Năm 2026, sau 81 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và 40 năm đổi mới, thời cơ của chúng ta mang một nội hàm khác: bứt phá để đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường.

cmt8.jpg
Quần chúng cách mạng và tự vệ chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ), ngày 19/8/1945. Cách mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Thế giới đang chuyển động với tốc độ rất nhanh. Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, chuyển đổi xanh đang làm thay đổi phương thức sản xuất và cấu trúc kinh tế toàn cầu. Chuỗi cung ứng được tổ chức lại. Dòng vốn, công nghệ và các trung tâm sản xuất đang dịch chuyển. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn vừa tạo ra thách thức, vừa mở ra những không gian mới cho các quốc gia biết tận dụng. Việt Nam bước vào giai đoạn này với một vị thế chưa từng có. Quy mô nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD, hội nhập quốc tế sâu rộng; tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao. Có thể nói chúng ta đã tạo dựng được một “thế” mới.

Nhưng chính lúc này, bài học tháng Tám năm 1945 lại đặt ra một câu hỏi cần được trả lời với tinh thần biện chứng và trách nhiệm cao nhất: Chúng ta đã có “thế”, nhưng “lực” đã đủ mạnh để biến thời cơ phát triển thành bước bứt phá đưa đất nước trở nên hùng cường hay chưa?

Đại hội XIV đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; đồng thời phấn đấu GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 tăng từ 10%/năm trở lên. Đó là một khát vọng lớn, nhưng cũng là một phép thử rất cao đối với thực lực quốc gia. Một nền kinh tế đã vượt quy mô 500 tỷ USD muốn tăng trưởng hai con số trong nhiều năm không thể chủ yếu dựa vào khai thác thêm tài nguyên, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng hay gia tăng vốn đầu tư theo phương thức cũ. Càng phát triển, chúng ta càng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học-công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả của thể chế. Vì thế, cần nhìn nhận một cách thẳng thắn: Việt Nam đã có nền tảng và vị thế để bước vào một chu kỳ phát triển mới, nhưng thực lực vẫn phải tiếp tục được xây dựng mạnh mẽ hơn để tương xứng với khát vọng và mục tiêu đã đặt ra.

Nếu năm 1945, thực lực của cách mạng là đường lối đúng, tổ chức Đảng, cán bộ, lực lượng chính trị quần chúng, căn cứ địa và lực lượng vũ trang, thì thực lực của Việt Nam hôm nay phải là thể chế hiện đại, nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, khoa học-công nghệ, nguồn nhân lực, hạ tầng chiến lược, doanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh, tiềm lực quốc phòng-an ninh, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và vị thế quốc tế. Nói cách khác, muốn nắm bắt được thời cơ mới, chúng ta phải tạo dựng một thực lực quốc gia mới.

Sâu xa hơn, khi thực lực đủ mạnh, chúng ta không chỉ có khả năng nắm bắt thời cơ mà còn có thể chủ động tạo ra thời cơ. Một hệ thống hạ tầng đi trước có thể kéo dòng đầu tư đến; một thể chế vượt trội có thể hình thành một thị trường mới; một công nghệ được làm chủ có thể tạo ra một ngành kinh tế mới; một doanh nghiệp đủ mạnh có thể đưa cả hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là bước chuyển cần thiết từ tư duy “đón thời cơ” sang chủ động “tạo thời cơ” cho phát triển. Vậy thực lực quốc gia mới ấy phải được tạo dựng từ đâu?

tit-1.jpg

Trong tất cả các yếu tố tạo nên thực lực, con người vẫn là nhân tố quyết định. Bài học của Cách mạng Tháng Tám cho thấy lực lượng không tự nhiên mà có. Cán bộ phải được phát hiện, đào tạo, rèn luyện trong thực tiễn; tổ chức phải được xây dựng; người có năng lực phải được giao việc và thử thách để đến thời điểm quyết định có thể đảm đương trọng trách.

Đất nước muốn đi nhanh phải có một đội ngũ cán bộ đủ năng lực để tổ chức cho đất nước đi nhanh. Công tác quy hoạch cán bộ vì thế cũng cần được nhìn bằng tư duy chuẩn bị lực lượng cho tương lai. Quy hoạch không chỉ là chuẩn bị con người cho một chức danh, mà sâu xa hơn phải là chuẩn bị một đội ngũ có khả năng giải quyết những bài toán phát triển mà đất nước sẽ phải đối diện trong 5 năm, 10 năm và xa hơn. Đào tạo phải gắn với sử dụng; luân chuyển phải thực sự là môi trường rèn luyện; cán bộ có triển vọng phải được thử thách qua những việc khó, địa bàn khó, lĩnh vực mới. Đặc biệt, muốn cán bộ dám làm thì phải có cơ chế để người làm đúng vì lợi ích chung được bảo vệ. Pháp luật đã từng bước hình thành cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; kết quả đổi mới, sáng tạo có thể được xem xét trong đánh giá, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, luân chuyển.

tit-2.jpg

Nhìn từ yêu cầu xây dựng thực lực, có thể thấy rõ hơn ý nghĩa của một loạt quyết sách lớn của Đảng trong thời gian gần đây. Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước... tuy điều chỉnh những lĩnh vực khác nhau nhưng cùng hướng tới một yêu cầu chung: tạo ra các nguồn lực và động lực mới cho sự phát triển của đất nước. Khoa học-công nghệ phải tạo ra năng suất mới. Kinh tế tư nhân phải phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo, khả năng đầu tư và tinh thần doanh nhân. Kinh tế nhà nước phải sử dụng hiệu quả nguồn lực Nhà nước nắm giữ, tiên phong trong những lĩnh vực chiến lược, dẫn dắt và mở đường ở những nơi thị trường chưa đủ khả năng hoặc chưa sẵn sàng tham gia. Hội nhập quốc tế phải giúp biến nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh bên trong.

cang-hang-hoa.png
Một loạt quyết sách lớn của Đảng trong thời gian gần đây tuy điều chỉnh những lĩnh vực khác nhau nhưng cùng hướng tới một yêu cầu chung: tạo ra các nguồn lực và động lực mới cho sự phát triển của đất nước. (Ảnh: ĐỨC ANH)

Nhưng trong một thế giới biến động nhanh, thực lực quốc gia không chỉ là năng lực phát triển mà còn phải là năng lực tự chủ và sức chống chịu. Một nền kinh tế có quy mô lớn nhưng phụ thuộc quá mức vào một số thị trường, nguồn cung, công nghệ hoặc chuỗi sản xuất trọng yếu vẫn có thể dễ bị tổn thương. Vì vậy, xây dựng tiềm lực kinh tế phải đồng thời củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, năng lực công nghiệp, công nghệ chiến lược và khả năng bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế. Phát triển nhanh phải đi cùng phát triển vững; hội nhập càng sâu rộng càng phải làm cho nội lực mạnh lên. Độc lập, tự chủ giành được và bảo vệ bằng sức mạnh của dân tộc; tự chủ chiến lược trong phát triển hôm nay cũng phải được bảo đảm bằng chính thực lực của đất nước.

tit-3.jpg

Nền tảng để các động lực vận hành vẫn là thể chế. Đây cũng là lý do sự chuyển đổi xây dựng chính sách từ tư duy nặng về quản lý sang kiến tạo phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Pháp luật phải quản lý được rủi ro nhưng đồng thời mở không gian cho sáng tạo; bảo vệ lợi ích công cộng nhưng không tạo ra những rào cản không cần thiết; phân cấp, phân quyền mạnh hơn nhưng phải đi cùng kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Khi đó, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà trở thành một nguồn lực, một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia, trực tiếp tạo thế và tạo lực cho đất nước phát triển.

Trong quá trình ấy, vai trò của Quốc hội có ý nghĩa đặc biệt. Chủ trương lớn của Đảng muốn chuyển thành động lực phát triển phải được thể chế hóa bằng pháp luật, bằng những quyết định về ngân sách, đầu tư, tổ chức bộ máy và các cơ chế cụ thể có thể thực hiện được trong cuộc sống.

le-tuyen-cu-80-nam.jpg
Lễ Kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026) (Ảnh: NHÂN DÂN)

Tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu Quốc hội phải “đi trước một bước về thể chế”, dũng cảm quyết định những vấn đề khó, những việc mới, lĩnh vực chưa có tiền lệ, mở đường cho đổi mới sáng tạo và phát triển. Trong tư duy đó, Quốc hội không thể chỉ đi sau thực tiễn để luật hóa những gì đã ổn định. Có những lĩnh vực mới, Quốc hội phải dám mở đường; có những quy định đã trở thành điểm nghẽn thì phải kịp thời sửa đường; có những mô hình chưa từng có tiền lệ nhưng thực tiễn đòi hỏi thì phải dám thiết kế cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Mở đường không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, càng mở rộng không gian phát triển, càng phân cấp, trao quyền thì càng phải xác định rõ trách nhiệm, giới hạn quyền lực và cơ chế kiểm soát rủi ro. Nếu hạ tầng vật chất mở ra không gian phát triển thì hạ tầng thể chế phải mở ra không gian cho sáng tạo và giải phóng nguồn lực.

Thực tiễn hoạt động của Quốc hội thời gian gần đây cho thấy yêu cầu lập pháp ngày càng rõ: xử lý nhanh hơn những điểm nghẽn; giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh không cần thiết; phân cấp, phân quyền thực chất hơn; tạo khuôn khổ pháp lý cho những lĩnh vực mới và sẵn sàng sửa ngay những quy định không còn phù hợp. Đó chính là cách biến thể chế thành nguồn lực phát triển. Và cũng vì thế, năng lực lập pháp trong giai đoạn mới không chỉ được đo bằng số lượng luật được thông qua, mà còn phải được đo bằng những điểm nghẽn được tháo gỡ, nguồn lực được giải phóng và cơ hội phát triển được mở ra.

Có một điều rất đáng suy ngẫm từ Cách mạng Tháng Tám: khi thời cơ thực sự xuất hiện thì hầu như không còn thời gian để chuẩn bị lực lượng. Nhưng thực tế không phải đến tháng Tám năm 1945 chúng ta mới chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Sự chuẩn bị đã diễn ra trong 15 năm trước đó.

Ngày nay cũng vậy. Khi một làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng xuất hiện, nếu chưa có hạ tầng, nhân lực và doanh nghiệp đủ khả năng tiếp nhận thì dòng vốn sẽ đi nơi khác. Khi một công nghệ mới tạo ra cả một ngành công nghiệp, nếu chưa có nhà khoa học, kỹ sư và doanh nghiệp công nghệ đủ mạnh thì cơ hội sẽ thuộc về quốc gia khác. Khi một cơ hội phát triển xuất hiện mà thể chế phải mất nhiều năm mới điều chỉnh, đến lúc hành lang pháp lý hoàn thành thì thời cơ có thể đã qua. Bởi vậy, chuẩn bị thực lực hôm nay chính là chuẩn bị cho những cơ hội của ngày mai, kể cả những cơ hội mà chúng ta chưa nhìn thấy hết.

Nhìn lại 81 năm kể từ mùa thu năm 1945, vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện rất rõ qua khả năng xác định đúng yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử, tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc và tổ chức thực hiện để biến mục tiêu thành hiện thực.

doi-moi.jpg
Ảnh minh họa. (Nguồn: ND)

Năm 1945, đó là giành độc lập. Sau đó là bảo vệ nền độc lập, thống nhất đất nước. Năm 1986 là khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Còn hôm nay, thử thách lịch sử ở một tầm cao mới: đưa một đất nước độc lập trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường.

Đảng đã đề ra những quyết sách chiến lược lớn; Nhà nước và Quốc hội đang từng bước thể chế hóa. Điều quyết định tiếp theo là phải rút ngắn khoảng cách từ quyết sách đến kết quả, hạn chế tối đa độ trễ chính sách. Nghị quyết phải nhanh chóng được thể chế hóa. Pháp luật phải thành chính sách có thể thực thi. Chính sách phải đi vào hoạt động của từng người dân, doanh nghiệp và địa phương. Và cuối cùng, chủ trương đúng phải được đo bằng những công nghệ Việt Nam làm chủ, những doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, những công trình được hoàn thành, những nguồn lực được giải phóng, những việc làm có năng suất cao được tạo ra và chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên. Khoảng cách từ quyết sách đến kết quả càng ngắn thì khả năng nắm bắt thời cơ của đất nước càng lớn. Trong một thế giới thay đổi từng ngày, chậm trễ đôi khi cũng chính là một cách đánh mất thời cơ.

anh-an-2.jpg

Mười lăm năm chuẩn bị đã giúp cách mạng Việt Nam không bỏ lỡ thời khắc lịch sử của mùa thu năm 1945. Hôm nay, lịch sử không lặp lại, nhưng bài học về thời cơ vẫn còn nguyên giá trị. Việc của thế hệ chúng ta không phải chờ đợi một thời cơ lớn xuất hiện, mà phải chuẩn bị đủ thực lực, chủ động tạo thế, tạo lực và từ đó tạo ra thời cơ để đưa đất nước tiến lên. Muốn tận dụng thời cơ phải có thực lực. Muốn có thực lực phải chuẩn bị từ trước. Muốn biến thực lực thành sức mạnh quốc gia phải có tầm nhìn chiến lược, đội ngũ đủ năng lực, thể chế đủ sức mở đường và khả năng tổ chức thực hiện đến cùng.

Năm 1945, có thực lực, chúng ta nắm bắt thời cơ để giành độc lập. Năm 2026, tạo dựng thực lực mới chính là điều kiện để Việt Nam không chỉ nắm bắt mà còn chủ động tạo ra những thời cơ mới, tiến nhanh hơn tới hai mốc 100 năm. Để đến năm 2045, khát vọng về một Việt Nam phát triển, hùng cường không còn là điều chúng ta nói về tương lai, mà trở thành thành quả hiện hữu của đất nước.

Đó cũng là cách bài học của mùa thu Cách mạng năm 1945 tiếp tục dẫn đường cho Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Có thể bạn quan tâm

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dâng hương tưởng nhớ Bác Hồ tại Nhà 67, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Phủ Chủ tịch. (Ảnh: DUY LINH)

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chiều 2/9, trong không khí cả nước kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nhà 67, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Myanmar Nguyễn Anh Đức. (Ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Myanmar cung cấp)

Đưa quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-Myanmar ngày càng phát triển thực chất, hiệu quả

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Myanmar có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, Đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-Myanmar; đồng thời tăng cường tin cậy chính trị giữa hai nước, thúc đẩy mở rộng hợp tác giữa hai nước trên cả khuôn khổ song phương và đa phương.

Lễ dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô Moskva của Nga.

Dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nga

Tại Quảng trường Hồ Chí Minh ở thủ đô Moskva, Đảng ủy tại Liên bang Nga, Ban Cán sự Đoàn và Hội sinh viên tại Liên bang Nga trang trọng tổ chức Lễ dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).

(Ảnh có sử dụng AI)

Nhìn lại 81 năm hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

Kỷ niệm 81 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (1945-2026), nhìn lại hành trình hơn 8 thập kỷ từ Tuyên ngôn Độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào cả nước và phát đi quốc tế trên Quảng trường Ba Đình lịch sử năm 1945, chúng ta càng thấm thía hơn giá trị lịch sử, tạo thế và lực cho nước ta vững vàng tiến lên.

Chương trình nghệ thuật tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: Mai Luận)

Thanh Hóa hòa nhịp cùng non sông

Tối 1/9, tại Quảng Trường Lam Sơn, phường Hạc Thành và Quảng trường biển Sầm Sơn, thuộc phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa diễn ra Chương trình nghệ thuật có chủ đề “Thanh Hóa hòa nhịp cùng non sông”.

Quốc kỳ Cộng hòa Slovakia.

Điện mừng Quốc khánh Cộng hòa Slovakia

Ngày 1/9, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 34 Quốc khánh Cộng hòa Slovakia (1/9/1992-1/9/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gửi điện mừng tới Tổng thống Peter Pellegrini; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng gửi điện mừng tới Thủ tướng Robert Fico; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi điện mừng tới Chủ tịch Quốc hội Richard Rasi.

[Video] Tư duy đối ngoại và bài học từ mùa thu năm 1945

[Video] Tư duy đối ngoại và bài học từ mùa thu năm 1945

Trong không gian trưng bày về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tại Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, có một hiện vật mà ít người chú ý tới: bộ quân phục của một quân nhân Mỹ. Vậy vì sao người Mỹ lại xuất hiện trong câu chuyện về những ngày Việt Nam giành độc lập năm 1945?

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan ngày 24/8. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ về “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” (Thông báo số 157-TB/ VPTW ngày 26/8/2026).

Đại sứ Hà Hoàng Hải phát biểu tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (Ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cung cấp)

Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 và tuyên dương, khen thưởng học sinh, sinh viên tiêu biểu trong Cộng đồng người Việt tại Ba Lan

Hòa chung không khí cả nước tưng bừng chào mừng Ngày Quốc khánh 2/9, Đại sứ quán Việt Nam phối hợp Hội người Việt Nam tại Ba Lan tổ chức Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026) và tuyên dương, khen thưởng học sinh, sinh viên người Việt tại Ba Lan tiêu biểu năm học 2025-2026.