Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp với các vùng: 11/34 địa phương có mức sinh thấp

Trong giai đoạn 2020-2025 thực hiện Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp với các vùng, đối tượng đến năm 2030, cả nước có 11/34 địa phương có mức sinh thấp, 17/34 địa phương có mức sinh cao, và 6/34 địa phương có mức sinh chung quanh mức sinh thay thế.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Trong sơ kết 5 năm (giai đoạn 2020-2025) thực hiện Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp với các vùng, đối tượng đến năm 2030 báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế cho biết, trên phạm vi toàn quốc, mức sinh xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 2,01 con/phụ nữ (2022), 1,96 con/phụ nữ (2023), giảm thấp ở mức 1,91 con/phụ nữ (2024), không đạt được mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc giai đoạn 2020-2024 và ước khó đạt mục tiêu đến năm 2030.

Xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng

Tại 21 tỉnh có mức sinh thấp, giai đoạn 2020-2024 có 10/21 tỉnh tăng tổng tỷ suất sinh và 11/21 tỉnh mức sinh tiếp tục giảm, dự kiến khó đạt được chỉ tiêu tăng 10% tổng tỷ suất sinh (TFR) ở các tỉnh có mức sinh thấp đến năm 2030. Cụ thể:

10 tỉnh tăng TFR, trong đó, 7 tỉnh tăng tổng tỷ suất sinh từ 5% trở lên; 3 tỉnh tăng tổng tỷ suất sinh nhưng tăng không đáng kể dưới 5% so với trung bình giai đoạn 2015-2019.

11 tỉnh tiếp tục giảm TFR, trong đó 5 tỉnh giảm trên 5% trở lên so với trung bình giai đoạn 2015-2019.

Trên toàn quốc, theo số liệu năm 2024, 18/63 tỉnh có TFR dưới 1,8 con/phụ nữ, rất thấp so với mức sinh thay thế, đặc biệt các tỉnh như: Thành phố Hồ Chí Minh (1,39 con/phụ nữ), Cần Thơ (1,45 con/phụ nữ), khó phục hồi về mức sinh thay thế.

Tại 33 tỉnh có mức sinh cao, giai đoạn 2020-2024, có 23/33 tỉnh giảm TFR, 10/33 tỉnh tăng TFR, dự kiến khó đạt được chỉ tiêu giảm 10% TFR ở các tỉnh có mức sinh cao đến năm 2030.

Cụ thể, có 24 tỉnh giảm TFR, trong đó: 15 tỉnh giảm TFR từ 5% trở lên, 9 tỉnh giảm TFR dưới 5%. Trong số 24 tỉnh có 6 tỉnh giảm TFR về mức sinh thay thế (2,0 - 2,20 con/phụ nữ) so với trung bình giai đoạn 2015-2019.

Chín tỉnh tăng TFR, trong đó, 8 tỉnh tăng ở mức dưới 5%; tỉnh Hưng Yên tăng trên 5% so với trung bình giai đoạn 2015-2019.

Tại 9 tỉnh có mức sinh thay thế, giai đoạn 2020-2024, 6/9 tỉnh duy trì tổng tỷ suất sinh xung quanh mức sinh thay thế, 2/9 tỉnh tăng TFR trên mức sinh thay thế, tỉnh Trà Vinh giảm TFR dưới mức sinh thay thế so với trung bình giai đoạn 2015-2019, dự kiến khó đạt được chỉ tiêu duy trì kết quả ở những tỉnh đã đạt mức sinh thay thế đến năm 2030.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số liệu về mức sinh năm 2024 sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp: 11/34 địa phương có mức sinh thấp (TFR dưới 2,0 con/phụ nữ), 17/34 địa phương có mức sinh cao (TFR từ 2,2 con/phụ nữ trở lên), và 6/34 địa phương có mức sinh xung quanh mức sinh thay thế (TFR từ 2,0-2,2 con/phụ nữ).

Kết quả đánh giá các mục tiêu Chương trình Điều chỉnh mức sinh cho thấy, xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả ở nơi có mức sinh cao cũng như nơi có mức sinh thấp. Dự báo đến năm 2030 khó bảo đảm mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với bối cảnh, xu hướng mức sinh xuống thấp; có chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con để đạt mức sinh thay thế bền vững.

Tập trung duy trì mức sinh thay thế phù hợp từng vùng

Theo Bộ Y tế, công tác tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi về dân số đã có những đổi mới về nội dung, hình thức thực hiện với theo định hướng của Nghị quyết số 21-NQ/TW, chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, tập trung duy trì mức sinh thay thế phù hợp từng vùng. Hệ thống thông điệp truyền thông được xây dựng theo vùng mức sinh: vận động sinh ít con ở nơi mức sinh cao, duy trì mức sinh thay thế, khuyến khích sinh đủ hai con ở nơi mức sinh thấp.

Từ Trung ương đến địa phương, công tác tuyên truyền được triển khai qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, văn hóa, nghệ thuật, huy động người có ảnh hưởng và đội ngũ cộng tác viên cơ sở. Nội dung giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, giới tính được lồng ghép vào chương trình học, hoạt động ngoại khóa phù hợp từng cấp học, độ tuổi.

Bộ Y tế thí điểm chương trình giáo dục trước khi kết hôn nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng cho thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, nuôi dạy con và xây dựng gia đình hạnh phúc. Các hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, định hướng hành vi sinh sản phù hợp, hỗ trợ mục tiêu phát triển dân số bền vững.

Các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích về dân số đã được rà soát, điều chỉnh và từng bước hoàn thiện nhằm mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên phạm vi toàn quốc. Nhiều cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số được điều chỉnh, xây dựng, trong đó có những chính sách, giải pháp mang tính đột phá để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình, cụ thể như: Các quy định xử lý vi phạm sinh con thứ ba đã được bãi bỏ, thay vào đó là chính sách tôn trọng quyền quyết định sinh con của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng.

Luật Dân số vừa được Quốc hội thông qua đã quy định các chính sách cụ thể để hỗ trợ, khuyến khích sinh con như: Hỗ trợ tài chính, tăng thời gian nghỉ thai sản, hỗ trợ mua, thuê mua và thuê nhà ở xã hội cho các gia đình, cá nhân có từ 2 con trở lên,… chính quyền địa phương quyết định áp dụng có lộ trình các biện pháp cụ thể, mức hỗ trợ trên cơ sở khả năng, tình hình thực tế của địa phương.

Chương trình mục tiêu Quốc gia chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, xây dựng các hoạt động nhằm khuyến khích các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con. Nhiều địa phương đã ban hành chính sách thưởng tiền, hỗ trợ dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, phát triển các câu lạc bộ, mô hình hiệu quả... nhằm khuyến khích người dân sinh đủ hai con, hỗ trợ nuôi dạy con và nâng cao chất lượng dân số.

Tuy nhiên, Bộ Y tế cũng nhận định, một số địa phương chậm ban hành văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình, chỉ tiêu về mức sinh chưa được lồng ghép đưa vào chương trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Nhiều tỉnh xây dựng chỉ tiêu tổng tỷ suất sinh cao hơn so với mục tiêu của trung ương dẫn đến khó có khả năng hoàn thành chỉ tiêu của địa phương.

Việc ban hành các chính sách hỗ trợ khuyến khích để thực hiện Chương trình tại một số địa phương còn chậm. Chưa có chính sách hỗ trợ để tạo môi trường nam, nữ thanh niên giao lưu, kết bạn, hẹn hò và tiến tới hôn nhân; khuyến khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi, không kết hôn muộn và sớm sinh con; hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con mua/thuê nhà ở xã hội.

Bộ Y tế khuyến cáo, nhiều quốc gia Đông Á và châu Âu (Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…) đã rơi vào bẫy mức sinh thấp, dù có chính sách hỗ trợ tài chính, mở rộng dịch vụ chăm sóc trẻ em, nghỉ sinh, nghỉ chăm con… nhưng mức sinh vẫn không phục hồi đáng kể. Do đó, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ dân số, phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, nhằm đảm bảo phát triển bền vững và giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc giảm sinh và già hóa dân số.

Có thể bạn quan tâm

Nhân viên y tế nhập liệu hồ sơ sức khỏe điện tử cho người dân.

Tây Ninh đẩy mạnh số hóa, thu hút nhân lực y tế

Ngày 4/5, Sở Y tế tỉnh Tây Ninh thông tin, tính đến hết quý I/2026, toàn tỉnh đã tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 3,1 triệu người, đạt tỷ lệ 96,94%, vượt xa mục tiêu đề ra. Song song đó, bệnh án điện tử đã được triển khai tại 4 bệnh viện, giúp giảm thiểu giấy tờ, nâng cao khả năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu y tế.

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

[Video] Sự thật về nhịn ăn trước khi chụp CT

Liệu có cần nhịn ăn tuyệt đối trước khi chẩn đoán hình ảnh hay có khung giờ nào là tốt nhất để chụp chiếu hiệu quả tốt nhất? Hãy cùng nghe tư vấn từ Bác sĩ để giải đáp cho thắc mắc này.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Như Hải, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) hướng dẫn sinh viên về thực hành lâm sàng răng hàm mặt.

Đổi mới đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành y tế

Đào tạo bác sĩ nội trú cũng là một hệ đào tạo đặc thù của khối ngành sức khỏe. Trong bối cảnh cả ngành y tế cũng như giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, thì việc đào tạo đội ngũ nhân lực này cũng cần phải có những thay đổi.

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.