Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là người sáng lập và gây dựng nên nền báo chí cách mạng Việt Nam mà bản thân Người còn là một nhà báo, một đối tác gần gụi của báo chí trong nước và thế giới. Có lẽ, trong số các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ, không nhiều vị tiếp xúc với báo chí, nhất là báo chí nước ngoài, nhiều như Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn nhà báo L’Unita của Đảng Cộng sản I-ta-li-a, ngày 12-5-1959. Ảnh tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn nhà báo L’Unita của Đảng Cộng sản I-ta-li-a, ngày 12-5-1959. Ảnh tư liệu

Theo “Hồ Chí Minh toàn tập” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật biên soạn và phát hành năm 2011, từ khi nước nhà giành độc lập năm 1945 tới khi Người qua đời vào năm 1969, Bác trả lời phỏng vấn báo chí hơn 130 lần! Điều đó cho thấy Bác hiểu thấu tới mức nào tác động của nhánh “quyền lực thứ tư” này đối với công luận vì theo Người, “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp Chính phủ rất nhiều” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, t.4, tr. 465). Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, không nên né tránh, trái lại nên tích cực, chủ động tiếp xúc với báo chí, coi báo chí là một trợ thủ đắc lực trong quan hệ công chúng, là một kênh cực kỳ quan trọng trong việc chuyển tải đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tới công chúng trong và ngoài nước, phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu khống.

Đọc kỹ nội dung Bác Hồ trao đổi với báo chí ta có thể học được rất nhiều điều không chỉ về tư tưởng, quan điểm mà còn cả về kỹ năng thể hiện và cách đối đáp cực kỳ sắc sảo và vô cùng linh hoạt. Ta hãy lẩy ra đây một số thí dụ. Bác luôn kiên trì khẳng định ý chí mạnh mẽ, quyết tâm sắt đá giữ vững nền độc lập và sự thống nhất của nước nhà cũng như quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân dưới các dạng rất khác nhau, khi cương, khi nhu: “Dân Việt Nam có một ý muốn rất bình thường là muốn độc lập”, “tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc… Dân Việt Nam muốn hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi, thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”, “Bao giờ Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu!”…

Để tăng tính thuyết phục đối với công chúng, Bác thường lẩy ra những sự việc, những điển tích, những châm ngôn gần gụi với người dân của quê hương nhà báo. Thí dụ, khi trả lời phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP, Bác nói “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Baxcơ (Basques), người Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?” (Người Basques, là các nhóm người thiểu số sống ở khu vực tây nam nước Pháp giáp với Tây Ban Nha và người Breton ở khu vực tây bắc nước Pháp gần với nước Anh - tác giả). Để vạch trần thực dân Pháp cậy sức mạnh vu cáo ta gây chiến theo kiểu “cả vú lấp miệng em”, Bác gợi ý phóng viên hãy nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn của văn hào Pháp La Phông-ten (La Fontaine) - về “Con chó sói và con cừu” với nội dung là con sói làm đục suối nhưng lại đổ vấy cho con cừu và đòi ăn thịt con cừu.

Khi nói về các thế lực ngoại xâm thì Bác luôn thể hiện rất đanh thép nhưng khi nói về đất nước và nhân dân các nước đó, Bác lại dùng những ngôn từ đầy thiện cảm. Tổng kết chuyến thăm Pháp năm 1946, Bác nói: “Đối với nước Việt Nam, đa số dân Pháp cũng tỏ ra có cảm tình, rất nghiêng về nền độc lập của ta. Lý lẽ của họ rất đơn giản nhưng cũng rất sâu xa: Nước Pháp muốn dân chủ, không có lý gì lại muốn cho nước khác và nước Việt Nam không dân chủ; nước Pháp muốn độc lập và suốt bốn năm trời đã phấn đấu và hy sinh nhiều để cố giữ lấy độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không được độc lập”.

Nhiều chủ trương, đường lối lớn của nước ta Bác đã thể hiện rất “đời thường”, ngắn gọn, súc tích, có ý nghĩa như phương châm lâu dài chỉ đạo hành động. Thí dụ khi nói về mối quan hệ giữa thế và lực trong ngoại giao, Bác thể hiện: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Hay khi trả lời nhà báo Mỹ S.Ê-li Mây-si (S.Elie Massie), hãng International News Service, vào tháng 9-1949 về chính sách đối ngoại của Việt Nam, Bác khẳng định chính sách đó là “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Trong một dịp khác, khi trả lời nhà báo Ấn Độ Va-xi-đép Rao vào tháng 5-1947 Bác nói rõ: “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè” (Ngũ cường: Ý nói tới năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là Liên Xô trước đây, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc - tác giả).

Một nghệ thuật khác khi trả lời phỏng vấn mà Bác sử dụng là sử dụng cách nói ẩn dụ, đưa ra những lập luận ẩn ý có phần hóm hỉnh... Thí dụ, trong một cuộc họp báo vào ngày 12-7-1946 ở Pa-ri, Pháp, khi được hỏi về việc nước ta có quốc hữu hóa doanh nghiệp của Pháp không, Bác trả lời: “Chúng tôi không quốc hữu hóa không điều kiện; chúng tôi không tịch thu không của người nào cả”, khi phóng viên gặng hỏi: Nếu cần phải quốc hữu hóa thì sẽ quốc hữu hóa những doanh nghiệp nào? - thì Người đáp lại rằng: “Những doanh nghiệp nào dùng vào việc chế tạo bom nguyên tử”(!).

Đối với người trả lời phỏng vấn thì khó nhất là cách ứng phó đối với những câu hỏi móc máy: khước từ trả lời là hạ sách vì sẽ thể hiện sự lúng túng của mình, nổi đóa lên càng không có lợi vì dễ rơi vào thế yếu, Bác đã né tránh khéo léo những cái bẫy người phỏng vấn giăng ra, đồng thời phản bác bằng những lập luận sắc bén dưới hình thức lấp lửng, dí dỏm. Thí dụ, trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, vì lý do sách lược, Đảng ta rút khỏi hoạt động công khai và một số nhà báo quốc tế đã tìm cách khẳng định việc Bác theo đuổi chủ nghĩa cộng sản để từ đó cô lập nước ta. Tại cuộc họp báo quốc tế năm 1946 nói trên, một nhà báo hỏi: “… chúng tôi nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa có thể cộng sản hóa được trước một thời hạn là 50 năm không?”. Đáp lại Bác nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2.000 năm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ”. Qua câu trả lời ấy, Bác không công khai thừa nhận nhưng không phủ định việc mình theo chủ nghĩa cộng sản bằng cách nói rằng mình là người “nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”, đồng thời Người giới thiệu mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cũng như nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, còn Việt Nam chưa đủ điều kiện chứ không phải không đi theo chủ nghĩa cộng sản.

Hoặc đáp lại lập luận có ý khiêu khích của một nhà báo khi ông ta khẳng định Pháp không muốn điều đình với Việt Nam vì điều đó sẽ tạo điều kiện cho Liên Xô đặt chân tại Việt Nam, Bác sử dụng chiến thuật “phòng ngự để tiến công”: “Đấy chỉ là một cớ để nói. Nước Nga Xô-viết không có trước năm 1917. Nhưng mà nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam đã có từ trên 80 năm nay!”.

Một nét độc đáo khác của Bác là sử dụng cách nói đời thường, dân dã, gần gụi với mọi người nhưng ẩn chứa hàm ý sâu xa như “Muốn gánh được nặng, phải chịu được khó nhọc”, “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa tai nhau”, “Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách, làm vườn”…

Trên đây, chỉ xin đưa ra đôi ba cảm nghĩ về kỹ năng đặc biệt của Bác Hồ trong khi trả lời phỏng vấn của báo chí. Trong một xã hội rộng mở và hội nhập với bên ngoài, phải thường xuyên tiếp xúc với các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước như hiện nay, chúng ta rất cần chú tâm học tập nghệ thuật giao tiếp với báo chí của Bác. Điều này thật không dễ vì làm sao có thể vươn tới chiều cao về trí tuệ, chiều sâu về văn hóa Đông - Tây - Kim - Cổ, sự lão luyện về nghề nghiệp như Người được! Mặc dầu vậy, trong khuôn khổ “học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” chúng ta vẫn phải cố phấn đấu, trong trường hợp này là vận dụng Sáu điều Người dạy các cán bộ cách mạng từ năm 1926:

“1/Phải sử dụng ngôn ngữ thích hợp với đối tượng.

2/Phải chọn cách thức thu hút người nghe, biết dắt dẫn người nghe.

3/Nội dung diễn thuyết dễ hiểu.

4/Bài diễn thuyết phải thích hợp với hoàn cảnh.

5/Phải có những chứng cớ, ví dụ rõ ràng.

6/Trong mọi hoàn cảnh, diễn giả phải trung thực, không xuyên tạc”.

(Hồ Chí Minh: Tiểu sử, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2010, tr. 188).

Tuy những lời dạy trên liên quan tới diễn thuyết song hoàn toàn phù hợp với cách trả lời phỏng vấn báo chí.

Có thể bạn quan tâm

Lễ đón Thủ tướng Lê Minh Hưng đến thành phố Kazan, Cộng hòa Tatarsta, Liên bang Nga bắt đầu chuyến tham dự Hội nghị Cấp cao Kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga. Ảnh: TTXVN

Khẳng định vai trò cầu nối tin cậy

Từ ngày 16 đến 18/6, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao Kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN-Nga, tại thành phố Kazan của Liên bang Nga. Hoạt động đối ngoại quan trọng này gửi đi thông điệp Việt Nam coi trọng quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Nga, quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt Nam-Nga; khẳng định hình ảnh Việt Nam là cầu nối tin cậy trong ASEAN, là bạn bè thủy chung, chân thành của nước Nga.

GS, TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Đổi mới mạnh mẽ để phát triển nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đó là nhấn mạnh của GS, TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần về một số chính sách mới đã và đang triển khai nhằm mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Trong giai đoạn 2026-2031, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sẽ tiếp tục được hoàn thiện cả về hình thức tổ chức tổng thể và hệ thống giám sát để sát dân hơn, gần dân hơn.

Xây đắp nền tảng mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Mục tiêu mà mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp hướng tới không chỉ là sắp xếp tổ chức bộ máy mà còn là đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức quản lý, phương thức điều hành, phương thức làm việc, phương thức tổ chức thực hiện. Không chỉ giải quyết yêu cầu trước mắt mà phải tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 và trả lời một số câu hỏi của đại biểu tham dự. Ảnh: TTXVN

Định vị Việt Nam trong dòng chảy hợp tác khu vực

Với những ý nghĩa đặc biệt, chuyến thăm ba nước Đông Nam Á của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đạt được những kết quả quan trọng, mang tính đột phá, thông qua củng cố toàn diện nền tảng hợp tác, làm sâu sắc hơn và nâng tầm hợp tác chiến lược lâu dài, đưa quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác chủ chốt trong khu vực lên nấc thang phát triển cao hơn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân tại sân bay quốc tế Udon Thani. Ảnh: TTXVN

Thông điệp tăng cường tin cậy và hợp tác chiến lược

Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm chính thức Thái Lan, thăm cấp Nhà nước tới Singapore, phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La và thăm cấp Nhà nước tới Philippines mang ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.

Xây dựng không gian sinh hoạt cộng đồng là một trong những điểm quan trọng giúp mỗi địa phương nuôi dưỡng mạch ngầm văn hóa cho cư dân.

Sắp xếp lại không gian văn hóa bằng một tư duy sâu sắc hơn

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 21 về “sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố”, yêu cầu các địa phương hoàn thành phương án sắp xếp trước ngày 10/6/2026.

Hà Nội xác lập cấu trúc đô thị theo hướng “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, trong đó lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo. Ảnh Thành Đạt

Viết tiếp trường ca sông Cái

Ngày 13/5 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng ký Quyết định số 2512/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.

Người dân đặt nhiều niềm tin và kỳ vọng vào một nền hành chính hiện đại, thông suốt, minh bạch và trách nhiệm hơn khi bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp vận hành thật sự trơn tru. Ảnh: Thành Đạt

Phát hiện sớm vướng mắc để khắc phục kịp thời

Dù trong quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn bộc lộ một số hạn chế cần được tháo gỡ kịp thời, song đã tạo ra chuyển biến rất tích cực về cải cách hành chính, cung ứng dịch vụ công.

Ðại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, diễn ra tại Hà Nội từ ngày 11-13/5/2026. (Ảnh: Hồng Vinh)

Dấu mốc quan trọng mở đầu chặng đường phát triển mới

Là sự kiện chính trị-xã hội quan trọng, nhận được sự quan tâm sâu sắc của các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI (Đại hội XI) diễn ra trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ lớn, đan xen với không ít khó khăn.

Khi bỏ cấp trung gian, áp lực công việc không mất đi mà trái lại, dồn toàn bộ xuống cấp cơ sở.

Giám sát để kiến tạo phát triển

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vừa qua đã định hình tư duy đột phá: Mục tiêu cao nhất của các cuộc giám sát không phải là "vạch lá tìm sâu", mà là để khơi thông điểm nghẽn và kiến tạo phát triển.

“Con đường 30/4” không chỉ là con đường của riêng Việt Nam, mà còn là con đường của hòa bình, hợp tác và phát triển. (Ảnh Thành Đạt)

Tiếp nối Con đường 30/4

Có gì mới mẻ, tinh khôi trong buổi cuối xuân đầu hạ, khi chúng ta cùng nhớ về ngày 30/4 năm ấy, ngày trọng đại, non sông liền một dải?

Với sự cẩn trọng, sáng suốt và thống nhất cao, chỉ trong gần ba ngày làm việc đầu tiên của Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ kiện toàn nhân sự lãnh đạo cấp cao của bộ máy Nhà nước, Quốc hội.

Trọng trách của Quốc hội khóa XVI

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đã chính thức khai mạc sáng 6/4, mở ra một nhiệm kỳ mới trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.

Phiên Bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV - Ảnh: TTXVN

Đề cao chữ “Thật”

Hội nghị Trung ương 2 với nhiều nội dung quan trọng, được coi là những “hành lang pháp lý”, những “quy tắc vận hành”, những “nguyên tắc kỷ luật”, những “chuẩn mực hành động” để đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đây là “Hội nghị đặt nền móng vận hành cho cả nhiệm kỳ”.

Người dân xã Minh Châu được cán bộ, tình nguyện viên tư vấn, hướng dẫn và thực hiện thủ tục hành chính tại điểm phục vụ theo mô hình “Dịch vụ công lưu động”. (Ảnh TTXVN)

Tiếp bước cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn”

Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm là thông điệp chiến lược, mở đầu nhiệm kỳ mới, đặc biệt về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua nhiều luật, nghị quyết quan trọng. (Ảnh: DUY LINH)

Trả lời thôi, chưa đủ!

Theo thông lệ, trước thềm kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI, việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 10 - kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XV, được rà soát lại.

Thủ tướng Phạm Minh Chính xem sản phẩm nghiên cứu của sinh viên Đại học Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia MISIS. Ảnh: TTXVN

Nâng tầm toàn diện hợp tác Việt Nam-Liên bang Nga

Là chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam tới Nga sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định quyết tâm của cả hai nước củng cố nền tảng hữu nghị truyền thống, bền bỉ vượt thời gian, cũng như hợp tác tin cậy, chân thành giữa hai nước