Công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Kim Thành, thành phố Hải Phòng, hướng dẫn người dân làm thủ tục hành chính. (Ảnh: TTXVN)
Công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Kim Thành, thành phố Hải Phòng, hướng dẫn người dân làm thủ tục hành chính. (Ảnh: TTXVN)

Bỏ tầng nấc, dựng năng lực: Từ tinh gọn bộ máy đến kiến tạo quản trị (Kỳ 2)

Chính quyền địa phương 2 cấp: Năng lực quản trị được kiểm chứng từ thực tiễn

Mọi cuộc cải cách thể chế suy cho cùng đều phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Giá trị của một mô hình quản trị không được khẳng định bởi thiết kế thể chế trên văn bản, mà bởi khả năng chuyển hóa thành năng lực điều hành, chất lượng dịch vụ công và sự hài lòng, niềm tin của nhân dân.

Sau một năm vận hành trên phạm vi cả nước, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã trải qua chặng đường kiểm chứng đầu tiên: bộ máy hành chính vận hành liên tục; thẩm quyền công vụ được phân định lại theo hướng bám sát cơ sở; không gian phát triển được mở rộng; và các dịch vụ công thiết yếu được duy trì thông suốt.

Bức tranh thực tiễn sau một năm là căn cứ khách quan khẳng định tính đúng đắn và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong quyết sách tinh gọn bộ máy; đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn để xem xét, bác bỏ những nghi ngại hay quan điểm cho rằng sáp nhập bộ máy gây ra xáo trộn quản lý, làm chính quyền xa dân hoặc ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa địa phương.

Thực tiễn kiểm nghiệm giá trị của mô hình quản trị mới

Nhìn lại lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước, một năm chưa phải là khoảng thời gian dài để một mô hình mới bộc lộ hết chiều sâu tác động, nhưng đã đủ để thực tiễn kiểm nghiệm ba phương diện cơ bản: Bộ máy hành chính vận hành ra sao; quyền lực công được tổ chức và chuyển hóa thành năng lực phục vụ ở mức độ nào; và xã hội thích ứng như thế nào trước những thay đổi về không gian địa giới và cấu trúc tổ chức.

Thực tiễn đa dạng từ các địa bàn đặc thù - từ siêu đô thị như Thành phố Hồ Chí Minh; trung tâm kinh tế động lực như Đà Nẵng, Quảng Ninh; các tỉnh miền núi, biên giới như Nghệ An, Lào Cai, Tây Ninh, Ninh Bình; cho đến địa bàn chiến lược Tây Nguyên như Đắk Lắk đã khẳng định năng lực thích ứng rộng lớn của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Từ những kết quả đó có thể rút ra một quy luật của cải cách thể chế: Tinh gọn tổ chức chỉ phát huy giá trị khi đi liền với phân quyền, dữ liệu, trách nhiệm giải trình và sự chủ động của chính quyền cơ sở. Sự kiểm chứng đó thể hiện rõ qua bốn phương diện năng lực quản trị.

Trước hết, thực tiễn đã kiểm chứng năng lực tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn đầu mối nhưng không làm suy giảm năng lực phục vụ của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy việc cắt giảm các khâu trung gian không hề làm thu hẹp vai trò hay suy giảm các thiết chế công thiết yếu ở cơ sở. Khi Thành phố Hồ Chí Minh tinh gọn từ 441 đơn vị hành chính cấp xã xuống còn 168 xã, phường, giảm cơ quan chuyên môn cấp thành phố từ 43 xuống 16; khi Tây Ninh kết thúc hoạt động của 234 phòng chuyên môn cấp huyện, giảm từ 280 đơn vị xuống còn 96; khi Đắk Lắk tổ chức lại 102 đơn vị hành chính cấp xã mới sau khi sáp nhập; hay Ninh Bình kết thúc 22 đơn vị cấp huyện để hình thành 129 xã, phường..., thì trên toàn bộ các địa bàn đó, hệ thống các trung tâm phục vụ hành chính công, trạm y tế, trường học và mạng lưới an sinh xã hội vẫn được duy trì liên tục.

tinh-gon-bo-may.png
Đồ họa có sử dụng AI.

Điều đó cho thấy việc kết thúc hoạt động của cấp huyện và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã không phải là sự thu hẹp vai trò quản lý của Nhà nước. Bản chất của cải cách không phải là giảm đi một cấp hành chính, mà là tái cấu trúc phương thức phân bổ thẩm quyền và nguồn lực trong hệ thống quản trị quốc gia. Sự tinh gọn bộ máy, vì vậy, được đo bằng sự gia tăng năng lực thực thi và chất lượng phục vụ của chính quyền cơ sở.

Bên cạnh đó, thực tiễn đã khẳng định năng lực thực thi quyền lực công được nâng lên thông qua phân quyền rõ ràng gắn với điều kiện bảo đảm và hạ tầng dữ liệu. Trong cấu trúc quản trị hai cấp, thẩm quyền được phân định rõ với địa chỉ trách nhiệm cụ thể. Mặc dù địa giới hành chính của nhiều địa phương sau sáp nhập mở rộng hơn, nhưng nhờ quy trình công vụ được tổ chức lại, thời gian giải quyết công việc cho nhân dân lại được rút ngắn.

Việc Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết hơn 2,57 triệu hồ sơ với tỷ lệ đúng và trước hạn đạt 99,54%; Tây Ninh xử lý hơn 1,21 triệu hồ sơ với tỷ lệ quá hạn chỉ 0,02%; hay ngay tại cấp xã như Krông Ana (Đắk Lắk) - một địa bàn diện tích trên 107 km² với hơn 48.000 dân sau sáp nhập - Trung tâm Phục vụ hành chính công vẫn tiếp nhận hơn 5.400 hồ sơ, đạt tỷ lệ trực tuyến 91,9% và giải quyết đúng, trước hạn 99,8%... đã xác lập tư duy quản trị hiện đại.

Sự gần dân của chính quyền không đo bằng khoảng cách địa lý thuần túy từ nhà đến trụ sở ủy ban, mà được đo bằng tốc độ xử lý công việc, khả năng tiếp cận dịch vụ công thông suốt và sự minh bạch trong thực thi công vụ.

1784963978257-4915663004897714045-4915663004897714045-d97d88ed464aaed4a130e7d1d188d66d.jpg
Công chức Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Kim Thành, thành phố Hải Phòng, hướng dẫn người dân làm thủ tục hành chính. (Ảnh: TTXVN)

Sức mạnh của năng lực thực thi còn đến từ sự chuyển dịch nguồn lực con người một cách thực chất. Quá trình phân cấp, ủy quyền - như Thành phố Hồ Chí Minh giao khoảng 410 nhiệm vụ cho cấp xã; Quảng Ninh phân cấp 363 nhiệm vụ thuộc 13 lĩnh vực - chỉ phát huy tác dụng khi đi liền với việc điều động, biệt phái hàng trăm công chức có năng lực từ các sở, ngành cấp tỉnh về trực tiếp đảm nhận vị trí tại cấp xã. Điều đó khẳng định một nguyên tắc quản trị: Phân quyền phải đi liền với nguồn lực, ngân sách, dữ liệu và con người; phân quyền gắn liền với trách nhiệm giải trình mới tạo ra năng lực quản trị thực chất.

Ở một bình diện sâu hơn, chuyển đổi số đang làm thay đổi chính phương thức thực thi và kiểm soát quyền lực công. Việc kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, số hóa quy trình công vụ và ứng dụng công nghệ giám sát thời gian thực tại các trung tâm phục vụ hành chính công đã tạo ra sự minh bạch trong hoạt động công vụ.

Chuyển đổi số đang làm thay đổi chính phương thức thực thi và kiểm soát quyền lực công. Việc kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, số hóa quy trình công vụ và ứng dụng công nghệ giám sát thời gian thực tại các trung tâm phục vụ hành chính công đã tạo ra sự minh bạch trong hoạt động công vụ.

Trên không gian số, thời hạn xử lý hay sự chậm trễ đều để lại vết kỹ thuật số. Hạ tầng dữ liệu số không chỉ là công cụ kỹ thuật hỗ trợ hành chính, mà đang trở thành một cơ chế kiểm soát quyền lực thường xuyên, buộc mỗi cán bộ, công chức phải chuyển từ tư duy “thực hiện đúng quy trình, thủ tục” sang tư duy “chịu trách nhiệm về kết quả”.

Cùng với đó, thực tiễn một năm qua còn chứng minh năng lực kiến tạo phát triển được mở rộng trên không gian quản trị mới, giữ vững nhịp điệu kinh tế-xã hội và thế trận an ninh-quốc phòng. Giá trị của một mô hình quản trị được thể hiện ở khả năng duy trì liên tục các dòng chảy phát triển của nền kinh tế-xã hội, ngay cả trong giai đoạn chuyển tiếp của cải cách.

Những kết quả phát triển kinh tế-xã hội sau một năm cải cách - như Thành phố Hồ Chí Minh đạt quy mô GRDP khoảng 2,97 triệu tỷ đồng, thu ngân sách đạt khoảng 801.000 tỷ đồng; Quảng Ninh đạt tốc độ tăng trưởng 11,89%, thu ngân sách vượt 75% dự toán; Đà Nẵng mở rộng không gian phát triển mới - đã chứng minh rằng: Sắp xếp địa giới hành chính đã giúp giải phóng các không gian phát triển bị chia cắt, tạo quy mô đủ lớn để quy hoạch hạ tầng, tổ chức các chuỗi kinh tế và điều phối liên kết vùng.

Đặc biệt, tại các địa bàn chiến lược, có địa hình phức tạp và đường biên giới kéo dài như Nghệ An, Tây Ninh hay khu vực Tây Nguyên, việc vận hành chính quyền hai cấp góp phần củng cố thế trận an ninh nhân dân và quốc phòng toàn dân từ sớm, từ xa.

Tinh gọn tầng nấc hành chính giúp thông tin an ninh, trật tự từ cơ sở được truyền dẫn trực tiếp lên cấp tỉnh; đồng thời các chỉ đạo chuyên môn và nguồn lực an ninh, quốc phòng được triển khai trực tiếp xuống địa bàn.

Sự kết hợp giữa cải cách bộ máy với củng cố thế trận an ninh, trật tự đã tạo ra môi trường ổn định - điều kiện tiên quyết để mô hình chính quyền hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả.

Thước đo cuối cùng của chất lượng cải cách không chỉ là năng lực tạo dựng niềm tin xã hội, mà còn là năng lực quản trị sự thay đổi và sự trân trọng đối với những cống hiến, hy sinh của nhân dân cùng đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình cải cách. Phía sau những chỉ số công vụ hay tỷ lệ hài lòng cao tại các địa phương, là sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm lặng lẽ của đội ngũ cán bộ cơ sở - những người vừa phải xử lý khối lượng công việc tăng gấp nhiều lần, làm quen công nghệ số, vừa đối diện với những xáo trộn về vị trí việc làm hay chế độ chính sách sau sắp xếp. Cải cách thể chế không thể là những phép tính lạnh lùng trên sơ đồ tổ chức. Sự đồng thuận xã hội chỉ được bồi đắp bền vững khi Đảng và Nhà nước nhìn thẳng vào khó khăn thực tế, trân trọng từng sự sẻ chia của cán bộ và nhân dân, chủ động tháo gỡ vướng mắc bằng các chính sách thỏa đáng và thấu cảm.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá tiến trình sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính thời gian qua đã “củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Niềm tin ấy chính là động lực để chuyển hóa thành sự hợp tác, ý thức tuân thủ pháp luật và tinh thần tham gia giám sát của Nhân dân.

Giá trị rõ nét của cải cách qua quá trình tự hoàn thiện

Trong bối cảnh chiến tranh thông tin và chiến tranh nhận thức ngày càng gia tăng, việc các thế lực thù địch lợi dụng nền tảng số, công nghệ AI và tài khoản ảo để khuếch đại những khó khăn cục bộ là một phương thức tác động phổ biến nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội.

Bằng việc tuyệt đối hóa những vướng mắc kỹ thuật mang tính cục bộ, quá độ trong giai đoạn chuyển giao - như sự quá tải tạm thời của hạ tầng công nghệ, việc liên thông dữ liệu chưa đồng bộ, hay khối lượng tài liệu lưu trữ tồn đọng chưa kịp chỉnh lý - các luồng quan điểm thù địch trên không gian mạng đã cắt xén, thổi phồng vướng mắc thành “sự tê liệt của bộ máy” hay “thất bại của cải cách”. Họ cố tình đánh tráo tâm tư chính đáng của một bộ phận cán bộ sau sắp xếp để kích động bất mãn, gây chia rẽ nội bộ. Lấy lỗi kỹ thuật thay cho đánh giá chính trị, lấy khó khăn tổ chức thực hiện để phủ định đường lối là sự đánh tráo bản chất ngụy biện. Những khó khăn phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp là hiện tượng tự nhiên của quá trình vận động, đang được Đảng và Nhà nước nhận diện, điều chỉnh bằng các giải pháp căn cơ; đó không phải là bản chất, càng không phải là bằng chứng cho sự sai lầm của chủ trương.

Cùng với đó, quan điểm cho rằng việc sắp xếp đơn vị hành chính sẽ “xóa nhòa bản sắc văn hóa địa phương” hay làm “xa dân” cũng không phù hợp với thực tiễn. Bản sắc văn hóa của một vùng đất được hình thành qua lịch sử, lắng đọng trong ký ức cộng đồng, di sản, phong tục tập quán và lối sống của nhân dân; bản sắc ấy không phụ thuộc vào một con dấu hành chính và không tiêu biến khi thay đổi tên gọi hay địa giới quản lý.

Việc tổ chức lại không gian hành chính hợp lý hơn đã tạo ra quy mô nguồn lực lớn hơn để bảo tồn di sản liên vùng, kết nối các không gian văn hóa và phát triển du lịch. Khi các giá trị lịch sử và quyền lợi của người dân được tôn trọng, sắp xếp hành chính chính là cơ hội để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương trong điều kiện mới.

Ngược lại, việc tổ chức lại không gian hành chính hợp lý hơn đã tạo ra quy mô nguồn lực lớn hơn để bảo tồn di sản liên vùng, kết nối các không gian văn hóa và phát triển du lịch. Khi các giá trị lịch sử và quyền lợi của người dân được tôn trọng, sắp xếp hành chính chính là cơ hội để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương trong điều kiện mới.

Một cuộc cải cách thể chế chỉ thực sự có sức sống khi hệ thống đó có khả năng tự điều chỉnh, tự hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn. Quyết sách tiếp tục rà soát, sắp xếp đối với 705 đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt tiêu chuẩn trong năm 2026 không phản ánh sự thiếu nhất quán của chủ trương, mà thể hiện năng lực tự hoàn thiện của chính cuộc cải cách.

1784964021139-4915663004897714045-4915663004897714045-2e06ef7bf88b8694bee550b10a10fd0f.jpg
Cán bộ Trung tâm phục vụ hành chính công xã biên giới Quảng Trực (Lâm Đồng) giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.(Ảnh:TTXVN)

Thực tiễn một năm vận hành đã cung cấp nguồn dữ liệu về quy mô dân số, diện tích, khối lượng công việc và năng lực thực thi cán bộ. Việc dựa trên nguồn dữ liệu đó để sơ kết, đánh giá, nhận diện những điểm chưa hợp lý để tiếp tục tinh chỉnh là phương thức quản trị dựa trên bằng chứng khoa học và hiện đại.

Sự đúng đắn của một chính sách không nằm ở việc duy trì nguyên trạng phương án ban đầu, mà ở năng lực liên tục hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn. Tiến trình sắp xếp đơn vị hành chính vì thế cần tiếp tục triển khai với tinh thần nghiêm túc, bảo đảm công khai tiêu chí, giữ vững sự liên tục của dịch vụ công, quản lý chặt chẽ tài sản công, đồng thời gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững trật tự, an toàn xã hội.

Suy cho cùng, mọi cuộc cải cách thể chế đều phải được kiểm nghiệm bằng kết quả quản trị và sự thụ hưởng của nhân dân. Chính quyền địa phương hai cấp vì thế không phải là đích đến cuối cùng của tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy, mà là nền tảng thể chế quan trọng để tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia hiện đại.

Việc chuyển hóa thành công mô hình tổ chức mới thành năng lực quản trị thực chất sau một năm vận hành là căn cứ thực tiễn quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục kiến tạo năng lực phát triển, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

(Còn nữa)

Kỳ 1: Bỏ tầng nấc, dựng năng lực: Từ tinh gọn bộ máy đến kiến tạo quản trị

Có thể bạn quan tâm

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Ngô Đông Hải trao quà kỷ niệm tặng Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách truyền thông toàn cầu Melissa Fleming. (Ảnh: Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc cung cấp)

Việt Nam và Liên hợp quốc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thông tin, truyền thông và quản trị số

Việt Nam luôn coi trọng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin bình đẳng của mọi thành phần người dân, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, mở rộng hạ tầng Internet, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, hướng tới mục tiêu mọi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của tiến bộ khoa học, công nghệ.

EVN khẩn trương rà soát, tính toán, tiết kiệm tối đa chi phí để có phương án giảm giá bán lẻ điện bình quân nhằm hỗ trợ, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, doanh nghiệp. (Ảnh: VGP)

Khẩn trương xem xét phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng về 0% và giảm giá điện

Ngày 27/10, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc họp về các kịch bản điều hành giá xăng, dầu và điện. Cùng dự có lãnh đạo các Bộ: Tài chính, Công thương, Văn phòng Chính phủ; đại diện Bộ Tư pháp; Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Chiều 27/10, Quốc hội đã tiến hành thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết thi hành Bộ luật. (Ảnh: DUY LINH)

Tiếp tục hoàn thiện các quy định về tố tụng hình sự và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm

Chiều 27/10, Quốc hội đã tiến hành thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết thi hành Bộ luật, các đại biểu tập trung vào cách triển khai tố tụng điện tử, điều kiện xét xử trực tuyến và những bảo đảm cần có khi áp dụng thủ tục nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị.

[Video] Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm toán phải phục vụ cho quản trị hiện tại và kiến tạo tương lai

[Video] Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Kiểm toán phải phục vụ cho quản trị hiện tại và kiến tạo tương lai

Ngày 27/10, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã tiếp Đoàn lãnh đạo các tổ chức kiểm toán quốc tế nhân dịp sang Việt Nam tham dự Hội thảo quốc tế “Cơ quan kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới” do Kiểm toán nhà nước Việt Nam tổ chức.

[Video] Thời sự 24h ngày 27/10/2026: Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi): Thận trọng thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội danh

[Video] Thời sự 24h ngày 27/10/2026: Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi): Thận trọng thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội danh

Bản tin cập nhật những vấn đề thời sự nổi bật: Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Mùa thu ở miền Bắc có tháng 10 nóng nhất trong 35 năm qua; Hà Nội xem xét cơ chế đặc thù xử lý 12 dự án vi phạm của Tập đoàn Mường Thanh.

Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Phạm Quang Ngọc phát biểu kết luận hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030. (Ảnh: PHẠM HÀ)

Tỉnh ủy Hưng Yên ban hành Nghị quyết về phát huy bản sắc văn hóa và sức mạnh con người Hưng Yên

Ngày 27/10, Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 bàn về đầu tư xây dựng một số công trình giao thông trọng điểm, dự án khu đô thị du lịch sinh thái Tống Trân và việc ban hành Nghị quyết về phát huy bản sắc văn hóa và sức mạnh con người Hưng Yên.

Giải quyết thủ tục hành chính cho người dân tại Điểm phục vụ hành chính công phường Đống Đa, thành phố Hà Nội. (Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG)

Tầm nhìn chiến lược và năng lực quản trị quốc gia

Những biến động xã hội tại một số quốc gia phương Tây, từ phân hóa lợi ích, bất bình đẳng, phân cực chính trị đến suy giảm niềm tin vào các thiết chế công, đặt ra những vấn đề sâu sắc về năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp.

Thứ trưởng Ngoại giao Ngô Lê Văn.

Nâng tầm quan hệ, đưa tình hữu nghị thành kết quả hợp tác thiết thực

LTS-Thủ tướng Donald Tusk và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Ba Lan vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24 đến 26/10, theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng. Nhân dịp này, Thứ trưởng Ngoại giao Ngô Lê Văn đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến thăm và triển vọng hợp tác giữa hai nước.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa kiểm tra tình hình triển khai dự án Nhà hát Quân đội. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa kiểm tra tình hình triển khai Dự án Nhà hát Quân đội

Chiều 26/10, tại Hà Nội, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Trưởng ban Chỉ đạo Dự án đầu tư xây dựng Nhà hát Quân đội đã kiểm tra tình hình triển khai dự án Nhà hát.