Chiến lược khai thác, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 3/4/2023 phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).
Ảnh minh họa. (Ảnh: NDCT)
Ảnh minh họa. (Ảnh: NDCT)

Phát triển nhanh, bền vững các ngành kinh tế biển, nhất là các lĩnh vực kinh tế biển chủ lực

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả để phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển và khu vực ven biển, nhất là các lĩnh vực kinh tế biển chủ lực theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; nâng cao đời sống và sinh kế cộng đồng.

Ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát, ngăn ngừa và giảm thiểu; các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền và trên biển, các vấn đề về ô nhiễm xuyên biên giới, sự cố môi trường biển, ô nhiễm rác thải nhựa đại dương được quan trắc, kiểm soát và quản lý hiệu quả.

Đến năm 2030, ở các đô thị ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định về môi trường và sức tải môi trường biển, khả năng phục hồi, chống chịu của hệ sinh thái biển, đảo.

Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, khu vực biển, ven biển được bảo tồn đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, bao gồm các khu bảo tồn biển và ven biển; khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non tập trung sinh sống, nơi cư trú của các loài thủy sản, đường di cư của các loài thủy sản, các khu dự trữ sinh quyển, khu RAMSAR...; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000.

Ứng phó hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa vào sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo cùng với năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, biến đổi khí hậu và tác động của nước biển dâng được tăng cường.

Điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học biển và hải đảo cơ bản đáp ứng được yêu cầu của hoạt động khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển và hải đảo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển; phòng, chống thiên tai; ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng góp phần phát triển bền vững kinh tế biển.

Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000 và điều tra tỷ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập hệ thống thông tin tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật.

Tầm nhìn đến năm 2050 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hòa với thiên nhiên.

Phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và các đảo với các ngành công nghiệp công nghệ cao

Một trong những định hướng, nhiệm vụ Chiến lược đến năm 2030 là khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo. Tài nguyên biển và hải đảo bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển và quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.

Tầm nhìn đến năm 2050 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hòa với thiên nhiên.

Ưu tiên bố trí không gian biển cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch địa chất thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng; du lịch văn hóa; du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 11 đến 12%/năm, về khách quốc tế từ 8 đến 10% /năm và khách nội địa từ 5 đến 6%/năm

Phát triển hệ thống cảng biển xanh, thiết lập các khu vực biển đặc biệt nhạy cảm, tuyến hàng hải, có tính đến bối cảnh biến động trong khu vực và quốc tế. Các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh và chủ quyền biển đảo; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng-an ninh và chủ quyền biển đảo.

Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, khai thác thủy sản xa bờ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản nhằm mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 đến 4,0%/năm; tổng sản lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt 9,8 triệu tấn; trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản 7,0 triệu tấn, sản lượng khai thác thủy sản 2,8 triệu tấn.

Phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và các đảo với các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ nền tảng, công nghệ nguồn. Phấn đấu số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 20%/năm; phát triển năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới thân thiện môi trường, bảo đảm tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp đạt 32,3%.

Ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh các hoạt động, mô hình khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả, thân thiện môi trường, các dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn, phù hợp với trữ lượng tài nguyên và sức chứa sinh thái; hạn chế các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên bằng các công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp, gây tổn hại đến tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học.

Một định hướng nhiệm vụ khác của Chiến lược là bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi biển và hải đảo. Bảo vệ, duy trì hệ thống các khu bảo tồn hiện có; điều tra, khảo sát, đánh giá đề xuất thành lập các khu bảo tồn mới trên các vùng biển, ven biển và hải đảo; tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học ngoài khu bảo tồn; phục hồi các hệ sinh thái biển và ven biển bị suy thoái.

Đến năm 2030, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, 80% các khu vực biển có đa dạng sinh học cao, dịch vụ hệ sinh thái quan trọng được áp dụng chính sách bảo tồn hiệu quả, diện tích rừng ngập mặn ven biển được phục hồi tối thiểu bằng mức năm 2000.

Đẩy mạnh điều tra, đánh giá và xác định mức độ dễ bị tổn thương, tính nguy cấp của các loài sinh vật biển đặc hữu, có giá trị khoa học và kinh tế để đưa ra các phương án, giải pháp bảo vệ, bảo tồn và phục hồi.

Thiết lập, mở rộng và tăng cường năng lực quản lý các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các loài thủy sản. Đến năm 2030, 100% các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản được xác định và quản lý hiệu quả.

Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, gây nuôi và buôn bán xuyên biên giới các loài sinh vật biển hoang dã thuộc danh mục cần được bảo tồn...

Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, Chiến lược đề ra các giải pháp chủ yếu như: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phát triển khoa học, công nghệ; chủ động tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về quản lý, nghiên cứu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển; xây dựng cơ chế tài chính bền vững phục vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo; xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia...

Có thể bạn quan tâm

[Video] Dự báo thời tiết ngày 15/3/2026: Không khí lạnh suy yếu, cả nước chuyển trạng thái nắng ráo về chiều

[Video] Dự báo thời tiết ngày 15/3/2026: Không khí lạnh suy yếu, cả nước chuyển trạng thái nắng ráo về chiều

Hôm nay, đới gió Đông Nam ẩm gây tình trạng mưa phùn, nồm ẩm và sương mù dày đặc cho khu vực Bắc Bộ vào sáng sớm. Trong khi đó, miền Trung thời tiết cải thiện rõ rệt với nắng hửng về chiều, còn tại Nam Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, nắng nóng cục bộ bắt đầu xuất hiện trên diện rộng khi mùa khô bước vào giai đoạn cao điểm.

[Video] Dự báo thời tiết ngày 14/3/2026: Không khí ẩm bao phủ Bắc Bộ, Trung Bộ duy trì trạng thái mưa lạnh

[Video] Dự báo thời tiết ngày 14/3/2026: Không khí ẩm bao phủ Bắc Bộ, Trung Bộ duy trì trạng thái mưa lạnh

Hôm nay, không khí ẩm từ biển gây hiện tượng sương mù và mưa nhỏ cho miền Bắc vào sáng sớm. Trong khi đó, miền Trung vẫn duy trì trạng thái nhiều mây, mưa rào do tác động của gió Đông Bắc và địa hình. Khu vực phía Nam thời tiết ổn định hơn với nắng gián đoạn, thuận lợi cho các hoạt động ngoài trời.

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 14/3/2026: Bắc Bộ sương mù dày, miền Trung mưa dông diện rộng

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 14/3/2026: Bắc Bộ sương mù dày, miền Trung mưa dông diện rộng

Các tỉnh Bắc Bộ đón đới gió ẩm gây hiện tượng sương mù dày và mưa nhỏ rải rác; trong khi đó, không khí lạnh kết hợp địa hình tiếp tục gây mưa dông tại miền Trung. Khu vực Nam Bộ và Cao Nguyên duy trì trạng thái nắng ráo ổn định nhưng cần lưu ý các diễn biến gió mạnh trên biển.

(Ảnh: THẾ ĐẠI)

Cập nhật dự báo thời tiết các khu vực trên cả nước dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI

Dự báo thời tiết phục vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, từ ngày 13-16/3/2026, nhiều khu vực trên cả nước phổ biến ít mưa, trời rét về đêm và sáng ở miền bắc; Nam Bộ ngày nắng, có nơi nắng nóng. Trên biển có gió đông bắc mạnh, biển động.

[Video] Dự báo thời tiết ngày 12/3/2026: Miền Bắc đón mưa dông, cảnh báo xâm nhập mặn tại Nam Bộ diễn biến phức tạp

[Video] Dự báo thời tiết ngày 12/3/2026: Miền Bắc đón mưa dông, cảnh báo xâm nhập mặn tại Nam Bộ diễn biến phức tạp

Hôm nay, thời tiết nước ta có sự phân hóa rõ rệt do tác động của không khí lạnh tăng cường yếu. Trong khi miền Bắc và miền Trung đón mưa rào rải rác, thì khu vực Nam Bộ tiếp tục nắng mạnh, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn diễn biến phức tạp.

Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động theo dõi, ứng phó với các hình thái thời tiết nguy hiểm có thể xảy ra trong thời gian diễn ra bầu cử. (Ảnh minh họa: Báo Nhân Dân)

Chủ động ứng phó thiên tai trong thời gian diễn ra bầu cử

Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia vừa có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động theo dõi, ứng phó với các hình thái thời tiết nguy hiểm có thể xảy ra trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 12/3/2026: Bắc Bộ tăng nhiệt trước khi đón mưa dông, Nam Bộ bước vào cao điểm nắng ráo

[Video] Dự báo thời tiết đêm nay và ngày mai 12/3/2026: Bắc Bộ tăng nhiệt trước khi đón mưa dông, Nam Bộ bước vào cao điểm nắng ráo

Khối không khí lạnh suy yếu khiến nền nhiệt miền Bắc tăng nhẹ, tuy nhiên khu vực Tây Bắc Bộ cần đề phòng mưa rào và dông vào chiều tối do hội tụ gió. Tại miền Trung, mưa có xu hướng quay trở lại tập trung từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi. Trong khi đó, miền Đông Nam Bộ bắt đầu xuất hiện nắng nóng cục bộ.

Tăng cường kiểm soát khí thải động cơ phương tiện giao thông là một trong những biện pháp hiệu quả hướng đến mục tiêu Net Zero vào năm 2050. (Ảnh KHÁNH AN)

Đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh

Trong lộ trình trung hòa carbon, hướng đến mục tiêu Net Zero vào năm 2050 cũng như hạn chế nguồn ô nhiễm không khí tại đô thị, bên cạnh giải pháp tổng thể, việc kiểm soát khí thải động cơ của phương tiện tham gia giao thông là một trong những biện pháp hiệu quả.