Cần lưu ý điểm gì khi trẻ mắc bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu ở trẻ em có xu hướng xuất hiện theo mùa, khoảng tháng 8 đến tháng 10 hằng năm. Bác sĩ khuyến cáo, ngay cả khi trẻ được chữa khỏi bệnh bạch hầu vẫn cần theo dõi sát sao trẻ vì biến chứng vẫn có thể xảy ra.  
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Những dấu hiệu bệnh bạch hầu ở trẻ

Bệnh bạch hầu ở trẻ em (Diphtheria) là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính gây ra bởi vi khuẩn bạch hầu với các triệu chứng điển hình gồm: sự hình thành giả mạc dày, có màu trắng ngà bám chặt ở vùng hầu họng, tuyến hạnh nhân, thanh quản và mũi. Một số trường hợp, bệnh gây ảnh hưởng đến da và niêm mạc ở những khu vực khác như kết mạc mắt, bộ phận sinh dục…

Các tổn thương khi mắc bệnh không chỉ xuất phát từ nhiễm trùng mà còn gây ra bởi độc tính từ vi khuẩn bạch hầu, khiến người bệnh suy hô hấp, suy tuần hoàn, liệt màn khẩu cái, thậm chí là tử vong. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nguy cơ tử vong do bệnh bạch hầu cao, lên đến 20% trong 6-10 ngày. Điều trị sớm bằng huyết thanh kháng độc tố bạch hầu có thể cải thiện tỷ lệ sống sót nhưng trẻ vẫn cần theo dõi và điều trị biến chứng lâu dài.

Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Hạnh Trang, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP Hồ Chí Minh cho biết, mức độ nghiêm trọng của bệnh bạch hầu ở trẻ em phụ thuộc vào khả năng sản sinh và tiết ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu khi nhiễm phải một loại virus mang gen mã hóa tạo độc tố mạnh. Ngoại độc tố này gây ức chế tổng hợp protein, phá hủy mô và hình thành giả mạc dày, dai, có màu trắng ngà/trắng xám.

Giả mạc thường xuất hiện và bám chặt vào vùng hầu họng, tuyến hạch nhân, lưỡi và thanh quản của người bệnh. Bệnh diễn tiến nặng, ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu có thể đi vào máu, phát tán khắp cơ thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm cơ tim, viêm phổi, tổn thương thần kinh, liệt cơ…

Ngược lại, nếu trẻ chỉ nhiễm vi khuẩn bạch hầu và không nhiễm phải virus nguy hiểm, vi khuẩn sẽ không sản sinh độc tố; các triệu chứng bệnh diễn ra ở mức độ nhẹ đến trung bình, tương tự như viêm mũi họng thông thường, không tạo giả mạc.

"Sau khi nhiễm vi khuẩn bạch hầu từ 2 đến 5 ngày, bệnh sẽ bắt đầu xuất hiện triệu chứng. Các triệu chứng bao gồm suy hô hấp, rối loạn tuần hoàn, và các vấn đề về nuốt và nói. Bệnh nhi có thể hôn mê, thậm chí tử vong nếu không được can thiệp kịp thời", bác sĩ Trang cho hay.

Các dấu hiệu cha mẹ cần chú ý:

Một là, bạch hầu họng. Trẻ mắc bệnh thường có biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, đau họng. Khoảng 2 -3 ngày sau đó, ở vùng vòm họng, amidan xuất hiện giả mạc dày, dai và có màu trắng xanh. Khi bệnh diễn tiến nặng, trẻ có thể có triệu chứng sưng hạch cổ, sưng vùng dưới hàm; tiếp đó là tái xanh, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê.

Hai là, ở trẻ bị bạch hầu thanh quản, giả mạc xuất hiện tại thanh quản hoặc khu vực vòm họng lan rộng xuống phía dưới gây tắc nghẽn đường thở, khiến trẻ sốt nhẹ, ho, khàn tiếng. Giả mạc hình thành ở vách ngăn mũi khiến trẻ chảy nước mũi, dịch mũi hôi và đôi khi có máu ở trẻ bị bạch hầu mũi. Trẻ bị bạch hầu thanh quản và mũi thường có biểu hiện khò khè, khó thở, dễ bị suy hô hấp, thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Ba, bạch hầu ngoài da rất hiếm gặp. Khi mắc bệnh, vùng da nhiễm khuẩn sẽ đỏ, đau tương tự các bệnh nhiễm trùng da thông thường khác. Vết loét do bạch hầu gây ra được bao phủ bởi một lớp màng màu xám.

Một số trường hợp trẻ mắc bạch hầu ác tính (bạch hầu cấp), trẻ vừa nhiễm trùng và nhiễm độc nặng, có biểu hiện sốt cao nguy hiểm. Giả mạc trắng ngà lan rộng nhanh chóng. Hạch cổ sưng to có thể gây biến dạng cổ (cổ bạnh).

Biến chứng đáng lưu ý của bệnh bạch hầu ở trẻ

Bác sĩ Trang khuyến cáo, bệnh bạch hầu ở trẻ em có diễn tiến nhanh, nguy cơ cao gây biến chứng, thậm chí tử vong cao nếu không được chữa trị kịp thời, đúng cách.

Các biến chứng thường gặp gồm: Viêm cơ tim thường xuất hiện trong giai đoạn toàn phát của bệnh hoặc có thể xuất hiện muộn hơn, sau vài tuần khi trẻ khỏi bệnh. Nếu biến chứng viêm cơ tim xuất hiện từ những ngày đầu phát bệnh, nguy cơ tử vong sẽ rất cao. Các biến chứng về tim mạch như viêm cơ tim, loạn nhịp tim, suy tim xảy ra ở khoảng 30% trường hợp mắc bệnh bạch hầu có diễn tiến nặng.

Biến chứng viêm dây thần kinh thường ảnh hưởng đến dây thần kinh vận động, có thể hồi phục hoàn toàn nếu trẻ được chữa trị sớm, đúng cách. Khoảng 5% trường hợp mắc bệnh nặng gặp phải biến chứng này.

Trẻ có thể liệt màn khẩu cái (màn hầu), thường xuất hiện vào tuần thứ 3 khi phát bệnh; liệt các dây thần kinh vận nhãn, cơ hoành, cơ chi thường xuất hiện vào tuần thứ 5 của bệnh; viêm kết mạc mắt thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhũ nhi.

Trẻ có thể viêm phổi, suy hô hấp do liệt cơ hoành, tắc nghẽn đường thở; rối loạn chức năng bàng quang, thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận; tử vong.

Bệnh bạch hầu ở trẻ em sẽ được điều trị bằng thuốc, theo dõi và chăm sóc tích cực tại các cơ sở y tế. Việc điều trị bệnh bạch hầu ở trẻ em nên được thực hiện tại các cơ sở y tế có đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại nhằm mang đến hiệu quả điều trị tối ưu nhất và giảm thiểu biến chứng.

Bác sĩ có thể kê một số thuốc để điều trị bệnh bạch hầu ở trẻ em gồm thuốc kháng sinh và thuốc giải độc tố bạch hầu. Thuốc kháng sinh (penicillin, erythromycin…) có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn, loại bỏ nhiễm trùng và giảm thời gian lây nhiễm bệnh. Huyết thanh kháng độc tố bạch hầu tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp có thể được chỉ định nhằm hỗ trợ cơ thể chống lại độc tố của bạch hầu.

Trẻ có thể cần hỗ trợ hô hấp (như đặt ống thở, mở khí quản) cho đến khi tình trạng viêm đường thở thuyên giảm.

Bệnh bạch hầu ở trẻ em hiện đã có phương pháp điều trị nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, gây tổn thương nghiêm trọng đến các cơ quan như tim, thận và hệ thần kinh trong giai đoạn tiến triển. Đáng chú ý, ngay cả khi trẻ đang được điều trị, nguy cơ tử vong do bệnh bạch hầu vẫn cao, khoảng 3% trường hợp không qua khỏi, chủ yếu ở trẻ dưới 15 tuổi.

Vaccine là “vũ khí sinh học” tốt nhất để phòng ngừa bệnh bạch hầu ở trẻ em. Tiêm chủng đủ mũi và tiêm nhắc lại theo thời gian khuyến cáo là cách phòng bệnh bạch hầu ở trẻ em hiệu quả nhất, tỷ lệ bảo vệ đến 97%. Cơ thể chỉ cần 2-3 tuần sau khi tiêm đủ liều để sản sinh miễn dịch với bệnh.

Hiện nay, nước ta chưa có vaccine phòng bạch hầu đơn; trẻ được tiêm vaccine ngừa bệnh này bằng các loại vaccine phối hợp có kháng nguyên bạch hầu. Tùy vào độ tuổi của đối tượng tiêm ngừa, bác sĩ sẽ chỉ định loại vaccine và lịch tiêm phù hợp.

Sau khi hoàn tất lịch tiêm chủng 4 mũi vaccine 5 trong 1 hoặc 6 trong 1 trong 2 năm đầu đời (vào lúc 2, 3, 4 và 16-18 tháng), trẻ cần tiêm nhắc 1 mũi vaccine có thành phần bạch hầu vào lúc 4-6 tuổi và 9-15 tuổi. Người lớn đã hoàn thành lịch tiêm cơ bản cần tiêm một mũi 3 trong 1 sau đó nhắc lại một mũi mỗi 10 năm.

Có thể bạn quan tâm

Bảo hiểm xã hội giúp người dân giảm gánh nặng khi khám chữa bệnh. (Ảnh A.T)

Bắc Ninh: Tăng cường kiểm soát quy trình, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm y tế

Trước phản ánh người dân đã đóng tiền mua thẻ bảo hiểm y tế nhưng chưa ghi nhận gia hạn trên hệ thống, Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh đã khẩn trương phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức rà soát, chấn chỉnh sai phạm, đồng thời khuyến nghị, hướng dẫn các biện pháp để người tham gia bảo hiểm bảo vệ quyền lợi của mình. 

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Quốc Thái, Phó Viện trưởng Viện Tim mạch và ê-kíp thực hiện kỹ thuật TAVI cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Lần đầu thực hiện TAVI tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, cứu người bệnh 80 tuổi hẹp van tim nặng

Lần đầu tiên, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình thực hiện thành công kỹ thuật thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) cho người bệnh 80 tuổi bị hẹp khít van động mạch chủ, suy tim và nhiều bệnh nền. Thành công này mở thêm cơ hội tiếp cận kỹ thuật tim mạch chuyên sâu cho người dân ngay tại địa phương.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình - nơi tiếp nhận và điều trị cho người bệnh đến từ nhiều địa phương trong tỉnh và khu vực lân cận.

Bước tiến mới trong phẫu thuật gan tại Ninh Bình

Các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi cắt gan trung tâm cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan trên nền xơ gan do viêm gan B. Đây là kỹ thuật chuyên sâu, có độ khó cao trong phẫu thuật gan mật, hiện mới được triển khai tại một số trung tâm có nhiều kinh nghiệm.

Nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Raglai đến khám bệnh, theo dõi sức khỏe tại điểm Trạm Y tế Phước Kháng thuộc Trạm Y tế xã Thuận Bắc, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa nâng chất lượng chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số

Từ những điểm trạm giữa vùng khó, cán bộ y tế đang từng ngày đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần hơn với đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng để tuyến y tế cơ sở thật sự trở thành “lá chắn” đầu tiên bảo vệ sức khỏe cộng đồng, không chỉ có sự tận tâm của người thầy thuốc, mà cần một nền tảng đủ mạnh về nhân lực, cơ sở vật chất.

Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Lạt chính thức đưa vào hoạt động đơn nguyên thận nhân tạo. (Ảnh: MAI VĂN BẢO)

Lâm Đồng: Khai trương đơn nguyên thận nhân tạo tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Lạt

Sáng 11/8, tại phường Xuân Hương-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Lạt - thành viên Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ, chính thức khai trương và đưa vào hoạt động đơn nguyên thận nhân tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu điều trị suy thận mạn, đồng thời mang đến cho người dân thêm lựa chọn điều trị thuận tiện tại địa phương.

Kính áp tròng ngày nay không đơn thuần là một sản phẩm mang tính thẩm mỹ mà đã trở thành một trong những giải pháp hỗ trợ điều chỉnh thị lực được nhiều người lựa chọn. (Ảnh: Anh Thư)

Bảo vệ thị lực cho thế hệ trẻ: Yêu cầu cấp thiết trong thời đại số

Không phải đến khi nhìn mờ, nhức mắt hay độ cận tăng mới cần quan tâm đến thị lực. Trong một xã hội mà đôi mắt phải làm việc nhiều hơn cùng màn hình, công việc và nhịp sống hiện đại, chăm sóc thị lực đang dần chuyển từ tâm thế “có vấn đề mới xử lý” sang chủ động phòng ngừa, theo dõi và lựa chọn giải pháp phù hợp.

Quang cảnh Hội nghị khoa học toàn quốc về Công nghệ Sinh học 2026. (Ảnh: Ban Tổ chức cung cấp)

Tiếp tục nghiên cứu tối ưu nuôi cấy tế bào gốc trung mô thúc đẩy các liệu pháp y học tái tạo

Tại hội nghị khoa học toàn quốc về Công nghệ Sinh học 2026 vừa diễn ra tại thành phố Đà Nẵng, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ Tế bào Mescells có báo cáo chuyên sâu về “Phân tích một số thông số quy trình trọng yếu trong nuôi cấy tế bào gốc trung mô bằng mô hình động học tăng trưởng”.