Sáng 23/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Cân nhắc việc bỏ khâu thẩm định chính sách
Đối với việc đơn giản hóa quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai đánh giá cao định hướng tinh gọn quy trình, tăng tính chủ động, linh hoạt và rút ngắn thời gian xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đây là hướng đi cần thiết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách và giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.
Tuy nhiên, việc đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian xây dựng, ban hành văn bản phải bảo đảm thực chất, giảm những thủ tục không cần thiết nhưng không được giản lược các khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng chính sách, chất lượng thẩm tra và trách nhiệm giải trình của các cơ quan có liên quan.
Dẫn quy định tại khoản 2 Điều 25 dự thảo Luật về việc dự kiến lược bỏ thủ tục thẩm định chính sách đối với một số trường hợp xây dựng luật, pháp lệnh nhằm giảm một bước có thời hạn 30 ngày, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị cân nhắc kỹ việc lược bỏ thủ tục này.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, có thể rút ngắn thời gian thực hiện quy trình bằng cách giảm bớt các thành phần hồ sơ trùng lặp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức lấy ý kiến đồng thời hoặc rút ngắn thời hạn xử lý. Tuy nhiên, cần duy trì cơ chế đánh giá độc lập, có trách nhiệm và có khả năng phát hiện sớm những bất cập của chính sách.
Đặc biệt, cần tiếp tục duy trì cơ chế đánh giá độc lập đối với những chính sách có tác động lớn đến người dân, doanh nghiệp, ngân sách nhà nước và tổ chức bộ máy. Đồng thời, làm rõ trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong đánh giá tác động, tổng kết thực tiễn, rà soát tính thống nhất với hệ thống pháp luật và giải trình những phương án chính sách còn có ý kiến khác nhau.
Có chung quan điểm, đại biểu Tạ Thị Yên (Đoàn Điện Biên) bày tỏ đồng tình chủ trương của Chính phủ là phải rút ngắn thời gian xây dựng pháp luật, bỏ những thủ tục không cần thiết, song cho rằng cần phân biệt giữa giảm thủ tục và giảm lớp kiểm soát chất lượng chính sách.
Điều 27 dự thảo Luật quy định lấy ý kiến hồ sơ chính sách và tham vấn chính sách; đối với dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình, Bộ Tư pháp và một số bộ, cơ quan có trách nhiệm cho ý kiến theo từng lĩnh vực.
Đánh giá cách làm này có ưu điểm là nhanh hơn và xác định rõ trách nhiệm góp ý, tuy nhiên, điều đại biểu Yên băn khoăn là mỗi bộ, ngành thường nhìn chính sách từ góc độ chức năng của mình. Trong khi đó vẫn cần một đánh giá tổng thể: chính sách này đã thực sự chín chưa? phương án lựa chọn đã phải là tốt nhất chưa? tác động tổng thể thế nào? có mâu thuẫn với pháp luật khác hay không? có làm tăng chi phí xã hội hoặc tạo thêm thủ tục không?
Từ phân tích đó, đại biểu đề nghị nên giữ chức năng thẩm định chính sách theo hướng độc lập, thực chất, và có thể rút ngắn quy trình thủ tục, hoặc có thể làm song song một số nội dung, cũng như ứng dụng công nghệ để hỗ trợ.
“Nói cách khác, cái cần bỏ là thủ tục hình thức; còn lớp kiểm soát giúp phát hiện một chính sách chưa chín thì nên giữ”, đại biểu nhấn mạnh và dẫn thực tế triển khai Nghị quyết 206 cho thấy nhiều khó khăn phát sinh không chỉ do pháp luật sửa chậm mà còn do khi xây dựng quy định ban đầu chưa dự báo hết được sự va chạm giữa các văn bản hoặc những tình huống phát sinh trong thực tế.
Thiết kế cơ chế phản ứng chính sách vừa đủ nhanh, vừa rõ phạm vi, trách nhiệm
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại phiên thảo luận tổ là các quy định tại Điều 48, 49, 50 và 51 của dự thảo Luật. Quy định này cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định để điều chỉnh các quy định của Luật do Quốc hội ban hành trong trường hợp cấp bách, khẩn cấp khi Quốc hội không thể họp.
Nêu quan điểm về vấn đề này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên, đại biểu Quốc hội tỉnh Điện Biên chia sẻ với Chính phủ về yêu cầu phải có công cụ xử lý nhanh những tình huống mà thực tiễn không thể chờ.
Kết luận 09 của Bộ Chính trị cũng đã đặt vấn đề nghiên cứu cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ điều chỉnh một số quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được. Nhưng đồng thời, Kết luận cũng yêu cầu phải tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phân định rõ hơn giữa lập pháp với lập quy.
Đại biểu cho rằng, vấn đề ở đây không phải là có cho phản ứng nhanh hay không, mà điều cần cân nhắc là thiết kế cơ chế thế nào để vừa đủ nhanh, vừa rõ phạm vi và trách nhiệm.
Điều 48 hiện quy định Chính phủ có thể ban hành nghị định để điều chỉnh quy định trong văn bản của Quốc hội do Chính phủ trình; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh đối với những trường hợp còn lại. Dự thảo cũng đã đặt ra các điều kiện như phải được cấp có thẩm quyền đồng ý, phải có văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác nhận Quốc hội không thể họp, phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Theo đại biểu Tạ Thị Yên, hướng thiết kế này đã có những lớp kiểm soát cần thiết. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ thêm ngay tại Điều 48 thế nào là “khẩn cấp, cấp bách”, bởi nếu để quá rộng sẽ rất khó để xác định trường hợp nào nên dùng cơ chế thông thường, trường hợp nào dùng cơ chế đặc biệt.
Đại biểu đề xuất Luật nên quy định một số tiêu chí cơ bản, chẳng hạn nếu không xử lý ngay thì có nguy cơ gây đình trệ nghiêm trọng hoạt động kinh tế-xã hội, ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp hoặc gây hậu quả khó khắc phục.
Ngoài ra, đại biểu cũng đề nghị làm rõ thế nào là “Quốc hội không thể họp”. Hiện nay Quốc hội có thể tổ chức kỳ họp không thường lệ và có thể ứng dụng các hình thức họp phù hợp. Do đó, điều kiện này nên được hiểu theo nghĩa rất hẹp, là thực sự có lý do khách quan không thể đưa vấn đề ra Quốc hội xem xét kịp thời.
Bên cạnh đó, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên cho rằng cần xác định rõ những nội dung không sử dụng cơ chế này, chẳng hạn như các vấn đề mà Hiến pháp quy định phải do luật định, các vấn đề trực tiếp hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm, hình phạt; và những chính sách lớn về thuế, ngân sách, nghĩa vụ tài chính của người dân, doanh nghiệp.
“Nếu làm rõ ba điểm này thì Chính phủ vẫn có công cụ để phản ứng nhanh khi thật sự cần thiết; đồng thời, người thực hiện cũng có căn cứ rõ hơn để quyết định khi nào được sử dụng cơ chế đặc biệt”, đại biểu Tạ Thị Yên nhấn mạnh.
Đối với Điều 51 về hiệu lực, khoản 1 quy định pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật có hiệu lực không quá một năm. Khoản 2 quy định nếu hết thời hạn này mà Quốc hội vẫn chưa thể họp thì văn bản tiếp tục có hiệu lực cho đến khi Quốc hội ban hành luật để xử lý. Trong khi đó, khoản 6 Điều 49 và khoản 4 Điều 50 đã quy định: sau khi ban hành pháp lệnh, nghị định thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ phải báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Đại biểu Tạ Thị Yên đề xuất rà soát, chỉnh lý thêm Điều 51, quy định rõ khi nhận báo cáo, Quốc hội xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng, chấm dứt hoặc xử lý chuyển tiếp đối với cơ chế đặc biệt; đồng thời xác định rõ cách xử lý các quan hệ pháp luật đã phát sinh nếu văn bản chấm dứt hiệu lực. Như vậy vừa bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành, vừa tạo thành một quy trình khép kín, có điểm xem xét lại rõ ràng.
Góp ý về nội dung này, đại biểu Lê Thị Thanh Lam (Đoàn Cần Thơ) cho cho biết, thực tiễn triển khai Nghị quyết số 206/2025/QH15 cho thấy việc xử lý nhanh các vướng mắc pháp lý cấp bách là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc cho phép văn bản dưới luật hoặc Pháp lệnh điều chỉnh quy định của Luật là vấn đề rất lớn liên quan đến thẩm quyền lập pháp hiến định của Quốc hội.
Đại biểu thống nhất quy định này nhưng đề nghị siết chặt tối đa các điều kiện như: phải có sự đồng ý của cấp có thẩm quyền và có văn bản xác nhận chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quốc hội không thể họp được”. Đồng thời, quy định bắt buộc: ngay tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội, Chính phủ/Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định việc ban hành Luật để thay thế hoặc chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh, Nghị định đó, không để kéo dài hết thời hạn 1 năm nếu Quốc hội đã họp trở lại.