Bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ, với 54 dân tộc và khoảng hơn 90 ngôn ngữ khác nhau. Mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) đều có ngôn ngữ của riêng mình, trong đó sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp chung. Tuy nhiên, xu hướng hội nhập quốc tế đang làm nảy sinh nguy cơ suy giảm ngôn ngữ các DTTS.

Tặng chăn ấm cho học sinh Trường Dân tộc nội trú Mai Sơn (tỉnh Sơn La).
Tặng chăn ấm cho học sinh Trường Dân tộc nội trú Mai Sơn (tỉnh Sơn La).

Vấn đề quan hệ giữa các ngôn ngữ, giáo dục ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ ở các vùng đồng bào DTTS Việt Nam đã được đặt ra từ lâu và hiện nay vẫn được coi là cấp thiết, trước hết vì yêu cầu phải thống nhất ý chí và củng cố sức mạnh đoàn kết dân tộc, đồng thời thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc. Phải bảo tồn và phát triển những nét bản sắc trong văn hóa truyền thống của mỗi DTTS. Vì ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hóa, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa tinh thần của một dân tộc. Đồng thời, điều đó cũng góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam.

Chung quanh vấn đề giáo dục ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ ở các vùng đồng bào DTTS Việt Nam, cũng như về vai trò và vị trí của ngôn ngữ các DTTS hiện nay có rất nhiều điều đáng bàn luận. Đây không chỉ là chuyện riêng của ngành ngôn ngữ học, mà còn của các ngành giáo dục, dân tộc học, văn học, văn hóa dân gian, tâm lý học của các nhà hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc và của chính người dân... Tuy nhiên, vấn đề mai một, tiêu vong đối với tiếng mẹ đẻ của các DTTS, trong hoàn cảnh hiện nay ở nước ta đang được nhiều người quan tâm...

Theo chúng tôi có ba nguyên nhân làm mai một tiếng DTTS. Thứ nhất,về mặt dân số học: Số người nói các ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam không nhiều (rất ít so với tiếng Việt). Trong số các DTTS ở Việt Nam, các dân tộc hơn một triệu người không nhiều (Tày, Thái, Mường, Khmer). Chủ yếu là các dân tộc có số dân dưới một triệu người. Các dân tộc có số dân dưới 10 nghìn người, thậm chí dưới một nghìn người không ít (La Ha, Phù Lá, La Hủ, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô Lô, Mảng, Cờ Lao, Bố Y, Cô Ống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu). Các DTTS ở Việt Nam thường cư trú phân tán xen kẽ với các dân tộc khác, nghĩa là số lượng người nói một ngôn ngữ trong một đơn vị địa lý, hành chính không cao và không tập trung. Số người nói được các ngôn ngữ DTTS thường thuộc lứa tuổi già và trung niên, còn lứa tuổi thanh niên biết tiếng "mẹ đẻ" ít hơn, thậm chí nhiều trẻ em không biết tiếng mẹ đẻ của mình... Theo lẽ tự nhiên, các ngôn ngữ có số lượng người nói ít, lại phân tán, không có nhiều độ tuổi sử dụng thì nguy cơ mai một càng nhanh.

Thứ hai, về nhân tố văn hóa -ngôn ngữ: Hiện nay, quá nửa số DTTS ở Việt Nam đã có chữ viết. Đây là các hệ thống chữ dạng vuông gốc Hán, dạng Sanscrit, dạng la-tinh và cả dạng chữ hình vẽ. Có dân tộc có tới vài ba bộ chữ. Chữ viết (một dạng của ngôn ngữ) có vai trò đáng kể trong bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, giúp cho việc ghi chép và truyền bá các tác phẩm văn nghệ truyền thống và sáng tác mới, dùng trong phát thanh và truyền hình... Tuy nhiên, trên thực tế, các hệ thống ngôn ngữ nói trên có phạm vi sử dụng rất hẹp và chưa được nhiều người biết đến. Mặt khác, phần lớn ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam lâu nay không được truyền dạy có tổ chức mà chỉ được truyền dạy tự phát, hay dùng dưới dạng khẩu ngữ trong phạm vi gia đình, làng bản...

Thứ ba, về yếu tố tâm lý - xã hội: Ở nước ta, đồng bào các DTTS rất trân trọng những nét bản sắc văn hóa do cha ông truyền lại, trong đó có tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu vì lý do kinh tế, các bậc cha mẹ phải hướng con cái tới việc nắm vững tiếng Việt và các ngoại ngữ (Anh, Pháp, Trung, Nhật Bản...) để tìm kiếm việc làm, bảo đảm đời sống.

Từ lâu, chính sách của Nhà nước ta đối với ngôn ngữ các DTTS được thể hiện trong khá nhiều văn bản, tài liệu đã được công bố. Trong Điều 5, Chương I, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có ghi: "Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình". Trong Điều 7, Luật Giáo dục ban hành năm 2005: Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

Các luận điểm trong chính sách nói trên của Nhà nước hoàn toàn phù hợp với tinh thần và những cố gắng của cộng đồng quốc tế. Cho nên ngày 21-2 hằng năm đã được quy định là Ngày Quốc tế về tiếng mẹ đẻ. Ở nước ta, nhờ có chính sách đúng đắn, những năm gần đây đã có một số ngôn ngữ DTTS được sử dụng như đối tượng hoặc phương tiện dạy - học trong một số trường phổ thông và các cơ sở giáo dục khác ở vùng DTTS. Đồng thời, một số ngôn ngữ đang được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình địa phương như Khmer, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Chăm, Mông, Thái, Xê Đăng, Tày, Hà Nhì, Hrê, Cà Tu... Một số ngôn ngữ DTTS đã được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới; để biên soạn các từ điển đối chiếu song ngữ, các sách miêu tả ngữ pháp, các sách giáo khoa...

Nhân tố quan trọng nhất đem lại sức sống cho các ngôn ngữ là chúng được truyền dạy và có vai trò như thế nào trong đời sống xã hội. Vì thế, những hoạt động kể trên bước đầu đã mang lại điều kiện tồn tại cho một số ngôn ngữ DTTS. Hy vọng là những cố gắng của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân sẽ giúp ngôn ngữ các DTTS ở Việt Nam không ngừng được bảo tồn và phát huy các giá trị của nó trong điều kiện hội nhập đang diễn ra sâu rộng...

Có thể bạn quan tâm

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã có buổi làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị.

Thúc đẩy những định hướng hợp tác chiến lược về khoa học, công nghệ đi vào thực tiễn

Làm việc với Giám đốc điều hành bộ phận Open Government Products thuộc Cơ quan Công nghệ Chính phủ Singapore (GovTech) Lý Hồng Nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, đào tạo nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đều là những vấn đề Việt Nam ưu tiên và mong muốn Singapore chia sẻ kinh nghiệm.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành trên hệ thống thiết bị đo kiểm phục vụ đào tạo, nghiên cứu IoT và bán dẫn. (Ảnh: VNU)

Làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh

Hành lang chính sách cho phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước được hoàn thiện, cùng với cơ chế đặt hàng, tài trợ, thử nghiệm và hỗ trợ doanh nghiệp. Vấn đề hiện nay là đưa các cơ chế đó vào thực tiễn, tạo ra sản phẩm cụ thể, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Các diễn giả tham dự hội thảo “Chuyển đổi số trong khu vực công: Kiến tạo hạ tầng bền vững và bảo đảm an ninh dữ liệu hướng đến mục tiêu tăng trưởng quốc gia”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển đổi số khu vực công: Làm chủ dữ liệu, kiến tạo hạ tầng bền vững

Chuyển đổi số khu vực công đang chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Cùng với hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ và mở rộng, bảo đảm an ninh dữ liệu và năng lực phục hồi sau sự cố đang trở thành những điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Kết nối chuyên gia trí tuệ nhân tạo toàn cầu để giải bài toán Việt Nam

Mạng lưới chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI) Việt Nam toàn cầu được hình thành không chỉ để tập hợp trí thức người Việt trong và ngoài nước, mà còn mở ra cơ chế để các chuyên gia trực tiếp tham gia giải quyết những bài toán cụ thể, phát triển sản phẩm trí tuệ nhân tạo có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước.

Tọa đàm “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường Khoa học và Nhân văn tổ chức.

Hệ sinh thái hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ

Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo Việt Nam” do Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn vừa tổ chức kỳ vọng cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách sở hữu trí tuệ.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ. (Ảnh: DUY LINH)

Luật sửa đổi 4 luật lĩnh vực khoa học-công nghệ: Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp

Luật tập trung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển hạ tầng viễn thông phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, kinh tế gắn với quốc phòng-an ninh.

Ảnh thiết kế có yếu tố AI.

Tăng tốc chặng đường cuối, hướng tới chấm dứt nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026

Từ hơn 4.000 cá thể gấu nuôi nhốt năm 2005, đến nay cả nước còn 206 cá thể, phần lớn trong đó bị nuôi nhốt hơn 20 năm, sức khỏe suy giảm và cần được đưa đến các cơ sở cứu hộ. Việc hoàn thành mục tiêu chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật trong năm 2026 đang bước vào chặng đường cuối, nhưng cũng là giai đoạn nhiều thách thức.

Tổ lưu động thu thập thông tin về đất đai. (Ảnh: CÔNG VINH)

Tạo giá trị cho nền kinh tế số từ dữ liệu địa điểm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của dữ liệu, với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện và nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành. Tuy nhiên, việc có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với có nền kinh tế dữ liệu. 

Các giải pháp công nghệ cho ô-tô điện được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu đất nước "80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc". (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Bộ Chính trị sửa đổi chức năng, nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 215-QĐ/TW, ngày 18/8/2026 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 230-QĐ/TW, ngày 10/1/2025 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Nuôi cá lồng bè ở hồ Hòa Bình (Phú Thọ).

Ứng dụng khoa học cho chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Chuyển đổi sản xuất nông nghiệp đang là yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống ứng dụng khoa học, công nghệ đồng bộ cho chuỗi giá trị nông nghiệp được xác định là “chìa khóa” thành công cho việc hiện thực hóa mục tiêu nông nghiệp xanh, bền vững.

Khóa đào tạo về công nghệ lò phản ứng của Trung tâm Đào tạo hạt nhân (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam). (Ảnh: AN LAM)

Xây dựng đội ngũ cho chương trình điện hạt nhân

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của quốc gia cung cấp công nghệ và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam triển khai chương trình điện hạt nhân an toàn, hiệu quả. 

Đại diện các đơn vị tham gia tiếp nhận và bàn giao các mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN, xác định danh tính liệt sĩ tại Trung tâm giám định ADN (Viện Sinh học, Viện Hàn lâm). (Ảnh: MINH ĐỨC)

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp nhận 7.104 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN

Ngày 21/8, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) tiếp nhận 7.104 mẫu sinh phẩm do Ban Chỉ đạo Thành phố Hồ Chí Minh về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chuyển giao phục vụ công tác giám định ADN, xác định danh tính liệt sĩ.

Các đại biểu tham dự bài giảng đại chúng với chủ đề: “Quẳng gánh lo (AI) đi và vui sống”. (Ảnh: HUY HOÀNG)

Toán học và trí tuệ nhân tạo: “Quẳng gánh lo (AI) đi và vui sống”

Tiếp nối chuỗi bài giảng đại chúng "Toán học và Trí tuệ nhân tạo", ngày 21/8, tại Hà Nội, Trung tâm Dữ liệu và Thông tin Khoa học phối hợp Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) tổ chức bài giảng với chủ đề: “Quẳng gánh lo (AI) đi và vui sống”, thu hút đông đảo cán bộ, nhà nghiên cứu, sinh viên tham dự...

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Anh, Phó Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phát biểu khai mạc Hội thảo “Startup ở bối cảnh quốc tế”. (Ảnh: TG)

Kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam với mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu

Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang có bước chuyển quan trọng. Từ chỗ tập trung chủ yếu vào khuyến khích tinh thần khởi nghiệp và hỗ trợ hình thành các dự án, hệ sinh thái đang hướng tới khả năng kết nối nguồn lực, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư, thương mại hóa công nghệ và mở rộng thị trường.