Bảo đảm cung cấp than cho sản xuất điện

Diễn biến dịch Covid-19 những năm qua khiến cho ngành năng lượng gặp khủng hoảng. Xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine tác động lớn đến kinh tế thế giới, rõ nét nhất là giá cả nguyên, nhiên vật liệu năm 2022 tăng cao. Ngành than cũng không nằm ngoài tác động này, không đủ cung ứng cho sản xuất điện. Trong khi, sản lượng điện than chiếm tỷ lệ huy động lớn trong cơ cấu nguồn điện của nước ta, đạt 92,67 tỷ kWh, chiếm 48,1% tổng sản lượng toàn hệ thống. Như vậy, việc thiếu than cho sản xuất điện ngay trong quý I vừa qua đã hiện hữu nguy cơ căng thẳng điện trong mùa hè này.

Nhập khẩu than gặp khó, TKV chưa cung cấp đủ than cho các nhà máy nhiệt điện. Ảnh: ĐĂNG KHOA
Nhập khẩu than gặp khó, TKV chưa cung cấp đủ than cho các nhà máy nhiệt điện. Ảnh: ĐĂNG KHOA

Nỗi lo thiếu điện cận kề

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa báo cáo Thủ tướng Chính phủ khó khăn trong cung ứng điện toàn quốc giai đoạn 2022-2025. Theo đó, EVN tính toán cân đối cung cầu điện toàn quốc theo hai kịch bản phụ tải.

Kịch bản phụ tải cơ sở xây dựng là bảo đảm điện cho phát triển kinh tế với tăng trưởng GDP từ 6,5-7% và dự báo nhu cầu điện tăng trưởng gần 9%/năm. Còn kịch bản phụ tải cao để chuẩn bị sẵn sàng cho kịch bản nền kinh tế hồi phục và tăng trưởng mạnh. Trong đó, dự báo tăng trưởng nhu cầu điện năm 2022 là 11,5% và các năm 2023-2025 bình quân 10,36%/năm.

Tuy nhiên, EVN đánh giá việc bảo đảm cung ứng điện thời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt đối với khu vực miền bắc, nơi nhu cầu điện chiếm gần 50% toàn quốc và dự báo tăng trưởng cao hơn bình quân cả nước. Trong khi đó, các nguồn điện mới dự kiến hoàn thành hằng năm trong giai đoạn 2022-2025 luôn thấp hơn so tăng trưởng phụ tải.

Trong hai đợt nắng nóng tháng 5 và tháng 6/2021, phụ tải đỉnh của hệ thống đã đạt 42,5 GW, điện miền bắc thiếu nguồn do nhiều dự án nguồn điện lớn đã không đưa vào vận hành theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) và phải yêu cầu bên mua điện đáp ứng phát nguồn dự phòng hoặc cắt điện cục bộ. Các nhà máy nhiệt điện ở miền bắc đã chạy hết công suất, nhưng vẫn không đủ vì trời nóng kéo dài, nước không làm mát kịp, làm giảm một phần công suất. Do đó, việc bảo đảm cung cấp điện ngày càng khó khăn và có thể xảy ra tình trạng thiếu hụt công suất đỉnh vào các tháng 5, 6, 7 năm nay. Trong khi, việc hỗ trợ cấp điện từ miền trung, miền nam ra miền bắc bị giới hạn bởi năng lực truyền tải 500 kV Bắc-Trung.

Theo EVN, hiện việc thiếu than cho sản xuất điện đã rất nan giải bởi sản lượng cung ứng than hụt rất lớn so kế hoạch. Cụ thể, trong quý I/2022, tổng khối lượng than đã được cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) của EVN là 4,49 triệu tấn trên tổng số 5,85 triệu tấn theo hợp đồng đã ký (tương ứng tỷ lệ 76,76%). Do thiếu hụt 1,36 triệu tấn than nên nhiều tổ máy nhiệt điện than trong hệ thống đã phải dừng và giảm phát.

Đơn cử, các NMNĐ Nghi Sơn 1, Vũng Áng 1, Vĩnh Tân 2, Duyên Hải 1, hiện chỉ đủ than vận hành một tổ máy ở mức 60-70% công suất; NMNĐ Hải Phòng chỉ đủ than vận hành cho một trong bốn tổ máy. Ước tính, toàn hệ thống điện quốc gia thiếu hụt tới hơn 3.000 MW nhiệt điện than do thiếu than cho sản xuất điện.

“Tại anh, tại ả?”

Về vấn đề thiếu than, EVN kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các nhà cung cấp than lớn Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty Đông Bắc tăng cường cung cấp than trong nước cho các đơn vị phát điện; không tăng giá than trong nước bán cho hoạt động sản xuất điện cũng như giá than trong nước tính toán trong phương án phối trộn than. Công khai minh bạch giá than nhập khẩu để có giá than pha trộn phù hợp, không tăng quá cao. EVN cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành kiểm soát giá than trong điều kiện giá bán lẻ điện chưa được điều chỉnh kịp thời...

Tuy nhiên, để bảo đảm việc cung ứng than, TKV lại kiến nghị Chính phủ xem xét tăng giá bán than trong nước, đặc biệt giá bán than cho các NMNĐ. Bởi sản lượng than bán cho các hộ điện chiếm hơn 80% sản lượng than tiêu thụ của TKV nên việc tăng giá để bảo đảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh than của TKV trong điều kiện giá dầu, giá nguyên vật liệu tăng cao và chi phí phòng, chống dịch làm tăng giá thành sản xuất than.

Theo TKV, ngoài nguyên nhân khách quan của thị trường thế giới, thì việc chậm giao than còn do chính bản thân các NMNĐ đến ngày 2/3/2022, EVN mới chấp thuận cơ chế giá than pha trộn TKV kê khai theo Luật giá, dẫn tới TKV phải đẩy lùi và bỏ lỡ nhiều cơ hội nhập khẩu đủ than về pha trộn theo kế hoạch.

“Hiện nay, sau khi EVN chấp thuận cơ chế giá thì việc tìm được nguồn nhập khẩu than là vô cùng khó khăn và không nhập được các loại than có chất lượng phù hợp để pha trộn. Kèm theo đó là giá than thế giới tăng đột biến. TKV đã triển khai mở bốn gói thầu quốc tế mua than nhập khẩu để pha trộn trong quý II/2022. Tuy nhiên, do giá than thế giới tăng vượt giá đề xuất, cộng thêm ảnh hưởng chiến sự giữa Nga và Ukraine làm khan hiếm nguồn cung dẫn tới khả năng không có đơn vị trúng thầu”, TKV thông tin.

Còn về việc sản lượng than giao cho các NMNĐ quý I/2022 chưa cao, TKV khẳng định “do các nhà máy chậm xác nhận ký hợp đồng mua bán than năm 2022, đa số đến ngày 5, 6/1/2022 mới xác nhận ký hợp đồng và gửi qua thư điện tử cho TKV, nên mất khoảng 7-10 ngày đầu tháng 1/2022 không có căn cứ pháp lý để giao than”.

Mặt khác, theo TKV, có một số NMNĐ than (kể cả trong EVN và ngoài EVN) đã ký hợp đồng mua bán than dài hạn, trung hạn với TKV, nhưng lại thường xuyên không bảo đảm thực hiện theo cam kết. Như là, khi nguồn bên ngoài giá thấp hay điều kiện thời tiết thuận lợi, các nhà máy điện tăng cường lấy than bên ngoài, không tiêu thụ than của TKV (lấy khối lượng ít hơn so hợp đồng đã ký) dẫn đến tồn kho cao, TKV phải giảm sản lượng sản xuất; ngược lại, khi giá cao hay thời tiết không thuận lợi (mưa bão, lũ lụt...) thì lại quay về lấy than của TKV với khối lượng cao, đặc biệt trong điều kiện hiện nay giá than thế giới tăng đạt mức kỷ lục, gấp hơn hai lần so cùng kỳ năm ngoái.

Thực tế này dẫn đến việc, nếu TKV không đưa vào kế hoạch sản xuất, nhập khẩu thì sẽ không đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy điện, do đó dẫn đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh than của TKV không ổn định, không bảo đảm nguồn cung ổn định, lâu dài. Do đó, TKV đề nghị Bộ Công thương có ý kiến chỉ đạo các NMNĐ tôn trọng và thực hiện nghiêm túc việc nhận than theo hợp đồng dài hạn đã ký kết với TKV. Bên cạnh đó, phải đăng ký nhu cầu than hằng năm với khối lượng không chênh lệch quá khối lượng bình quân theo hợp đồng dài hạn và thực hiện tiếp nhận đúng khối lượng than đã đăng ký để TKV có kế hoạch đầu tư các dự án và chủ động sản xuất than cung cấp cho sản xuất điện bền vững.

Giải pháp nào gỡ khó?

Trước thực tế trên, Bộ Công thương đã tổ chức cuộc họp khẩn vào ngày 1/4 để làm việc với ba tập đoàn lớn gồm EVN, TKV và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đã yêu cầu EVN thực hiện ngay biện pháp huy động bổ sung các nguồn điện khác bù cho những nhà máy nhiệt điện than phải dừng tổ máy; trong đó nguồn năng lượng tái tạo khoảng 1.000 MW, nguồn thủy điện khoảng 300 MW, nguồn điện khí khoảng 1.200 MW, nguồn nhiệt điện than khoảng 1.200 MW. “Như vậy, có thể khẳng định năm 2022 không thiếu điện để phục vụ sản xuất và sinh hoạt theo Kế hoạch huy động và vận hành hệ thống điện quốc gia đã được Bộ Công thương phê duyệt”, Bộ trưởng Diên nói và giao các tập đoàn phải nâng cao năng lực sản xuất nhiên liệu sơ cấp trong nước; tăng cường mua bán than, khí với các đối tác truyền thống và các đối tác mới.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng đã đề nghị Australia cân đối sản lượng than trong nước để cung cấp cho Việt Nam, trong buổi làm việc với đại sứ nước này vào ngày 1/4. Dự kiến Việt Nam có thể nhập khoảng 5 triệu tấn than từ Australia. Ngoài ra, Bộ Công thương sẽ xúc tiến tìm thêm nguồn nhập khẩu than cho điện từ Nam Phi.

Cho rằng miền bắc đứng trước nguy cơ thiếu điện vào một số thời điểm, đặc biệt là cao điểm nắng nóng trong khi các nhà máy nhiệt điện thiếu than, EVN đề xuất sớm có cơ chế phát triển nhanh các nguồn năng lượng tái tạo ở miền bắc. Trong đó, đến năm 2025 cần đưa vào vận hành thêm khoảng 5.500 MW các nguồn điện tái tạo, gồm 4.000 MW điện gió và khoảng 1.500 MW điện mặt trời kèm theo hệ thống lưu trữ phù hợp để đáp ứng nhu cầu công suất trong các giờ cao điểm tối. Đồng thời, EVN cũng đề xuất cơ chế khuyến khích phát triển các nguồn điện mặt trời mái nhà với mục đích tự tiêu thụ cho nhu cầu phụ tải tại chỗ, không bán lên lưới. Riêng về điện gió ngoài khơi, EVN cũng kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành xem xét bổ sung quy hoạch và chấp thuận chủ trương cho phép EVN triển khai đầu tư điện gió ngoài khơi khu vực Bắc Bộ để tăng cường nguồn cấp điện khu vực phía bắc và kết hợp bảo đảm an ninh quốc gia.

Về lâu dài, theo TKV, cần có cơ chế để tiếp tục đẩy mạnh khoan thăm dò, đánh giá trữ lượng than nhằm chuẩn bị cơ sở tài nguyên tin cậy cho sự phát triển ổn định, lâu dài của ngành. Thực hiện nghiêm túc, đúng tiến độ đầu tư các dự án khai thác than theo hướng tập trung phát triển các mỏ than hầm lò sản lượng lớn theo tiêu chí “Mỏ xanh, mỏ hiện đại, mỏ sản lượng cao”, liên thông các mỏ lộ thiên để mở rộng không gian nhằm tăng năng suất và giảm bớt chi phí chung. Chuẩn hóa, nâng cấp các kho cảng dịch vụ logistics phục vụ việc xuất nhập khẩu, pha trộn than.

Tại cuộc họp về tình hình cung ứng điện, cấp than, khí cho sản xuất điện, bảo đảm cân đối lớn về năng lượng trong năm 2022 và các năm tiếp theo diễn ra ngày 3/4, Thủ tướng giao các bộ, ngành, cơ quan xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo Phó Thủ tướng Lê Văn Thành, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển điện lực trực tiếp chỉ đạo, xử lý. Thủ tướng yêu cầu Bộ Công thương chủ động thúc đẩy phong trào tiết kiệm điện mạnh mẽ, hiệu quả hơn, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi năng lượng sạch, khai thác tối đa công suất các nguồn điện hiện có.

Có thể bạn quan tâm

“Menu” chạy bộ

Có thể ví cơ cấu các giải chạy bộ hiện nay giống như menu (thực đơn) của một nhà hàng sang trọng. Ở đó vừa có các món phổ thông, vừa có các món thịnh soạn kiểu “signature” (dấu ấn) hay “chef recommended” (bếp trưởng gợi ý) và menu này đang phong phú hơn bao giờ hết.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Các dự án đầu tư công quy mô lớn giúp tháo gỡ các điểm nghẽn về giao thông. Ảnh: BẮC SƠN

Củng cố niềm tin vào triển vọng kinh tế Việt Nam

Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực triển vọng tăng trưởng của Việt Nam sau kết quả kinh tế nửa đầu năm. Nhưng để duy trì đà tăng trưởng dài hạn, nền kinh tế cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách và nâng cao chất lượng các động lực.

Dự báo xuất khẩu của Việt Nam vẫn có thể tăng trưởng 18 - 19% trong năm 2026. Ảnh & đồ họa: ANH QUÂN

Cải thiện cán cân thương mại

Dù cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu, nhiều chuyên gia cho rằng, đây chưa phải tín hiệu đáng lo. Vấn đề cốt lõi là nâng cao giá trị nội địa và giảm phụ thuộc đầu vào nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại bền vững.

Xử lý điểm nghẽn thị trường xăng dầu

Xử lý điểm nghẽn thị trường xăng dầu

Những ngày qua, tình trạng bán xăng dầu cầm chừng hoặc tạm ngưng bán tại một số cửa hàng đã làm dấy lên lo ngại về tính ổn định của thị trường. Dù cơ quan quản lý khẳng định nguồn cung tổng thể vẫn được bảo đảm, những diễn biến này cho thấy thị trường vẫn tồn tại những "điểm nghẽn" cần được xử lý bằng một cơ chế điều hành minh bạch, linh hoạt và đủ sức hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Tìm hàng hóa mới từ doanh nghiệp FDI

Dù khối nước ngoài bán ròng trong vài năm qua, nhưng giá trị cổ phần nắm giữ của khối này vẫn tăng từ 42,9 tỷ USD cuối năm 2024 lên 44,2 tỷ USD vào cuối tháng 6/2026.

Việt Nam là “quán quân” FDI Đông Nam Á

Việt Nam là “quán quân” FDI Đông Nam Á

The Diplomat, tạp chí thời sự quốc tế hàng đầu về khu vực châu Á - Thái Bình Dương nhận định, Việt Nam là “quán quân tuyệt đối” về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong 5 quốc gia Đông Nam Á hưởng lợi lớn nhất từ làn sóng dịch chuyển FDI.

Sầu riêng “lên sàn”

Một điểm đặc sắc của Lễ hội sầu riêng (với hai lần, trước đây do chính quyền huyện Krông Pắc cũ tổ chức và năm 2026 trở thành lễ hội cấp tỉnh) là tính bất ngờ. Nếu như hai lần trước, người dân cũng như du khách bất ngờ trước những hoạt động đa dạng, đặc sắc thì Lễ hội sầu riêng Đắk Lắk 2026 lại đem tới bất ngờ khi đưa sầu riêng lên sàn đấu giá.

Doanh nghiệp phải chủ động đầu tư công nghệ, đẩy mạnh tự động hóa nhằm tăng năng suất, bù đắp chi phí lao động tăng thêm. Ảnh: NAM ANH

Đổi mới năng suất để thích ứng với chi phí

Tăng lương tối thiểu luôn được nhìn như một khoản chi phí tăng thêm đối với doanh nghiệp. Nhưng trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhiều chuyên gia cho rằng, đây lại là cú huých buộc doanh nghiệp phải thay đổi mô hình phát triển.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Cải cách thể chế được xem là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đổi mới mô hình phát triển từ cải cách thể chế

Những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển, khơi thông các nguồn lực, cải cách thể chế và quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên đã mở ra một tư duy phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam.

Hiện nay, tiền gửi huy động phần lớn là ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Hóa giải áp lực lãi suất

Lãi suất đang nhích tăng tạo ra những lực cản nhất định đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, mở rộng các kênh tài chính dài hạn và hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ gánh nặng thanh khoản, tạo tiền đề hạ mặt bằng lãi suất và củng cố nền tảng phát triển bền vững.

Đáy ngắn hạn

Dự báo đáy (hoặc đỉnh) của thị trường chứng khoán (TTCK) chưa bao giờ là điều dễ dàng. Dù vậy, tại một số thời điểm thị trường tạo đáy ngắn hạn trong những năm qua, vẫn thường xuất hiện một số đặc điểm chung.

Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quy mô lớn giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực chiến lược. Ảnh: NGUYỆT ANH

Phát huy vai trò dẫn dắt

Gỡ các "điểm nghẽn" về cơ chế và quản trị được xem là điều kiện để đẩy nhanh tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả và phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Liệu cơm gắp mắm

Cuộc đua bán hàng trên kênh thương mại điện tử (TMĐT) đang có chiều hướng ngày càng khốc liệt, mà ở đó, sự kém hiệu quả sẽ phải trả giá bằng chi phí lớn.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa mong muốn có cơ chế để tiếp cận được máy móc, công nghệ. Ảnh: NAM ANH

Cải cách phải đến được với số đông doanh nghiệp

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, nhiều cơ chế, chính sách đã nhanh chóng được ban hành, tạo chuyển biến tích cực cho môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cải cách chỉ thật sự thành công khi đến được với số đông doanh nghiệp.

Việc triển khai xăng sinh học trên diện rộng đang mở ra cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp ethanol trong nước. Ảnh: NAM HẢI

Xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học bền vững

Sau hơn một tháng triển khai xăng E10 trên phạm vi cả nước, bài toán của thị trường không còn dừng ở việc có đủ ethanol để pha chế hay không. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để hình thành một hệ sinh thái nhiên liệu sinh học bền vững, trong đó chính sách ổn định, nguồn cung chủ động, vùng nguyên liệu phát triển đồng bộ và cơ chế thị trường đủ hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn.

Nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm sẽ ổn định giá cả tiêu dùng. Ảnh: NAM NGUYỄN

Giữ đà tăng trưởng cao, chủ động kiểm soát lạm phát

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi tích cực với tốc độ tăng trưởng cao, chỉ số giá tiêu dùng tiến sát ngưỡng mục tiêu điều hành. Vấn đề đặt ra không chỉ là đà tăng trưởng, mà phải bảo đảm ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và củng cố nền tảng phát triển bền vững.

Thi công cầu cạn thuộc gói XL1 trên tuyến cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột.

Nỗ lực rút ngắn tiến độ trong điều kiện thi công phức tạp

Các nhà thầu thi công dự án đường cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột đang huy động cao độ nhân lực, thiết bị, tăng ca kíp nhằm rút ngắn tối đa thời gian thực hiện. Tuy nhiên, trong điều kiện địa hình đồi núi, địa chất phức tạp, nguồn vật liệu khan hiếm và chi phí tăng cao, việc tăng tốc cần được đặt trong nguyên tắc bảo đảm an toàn, chất lượng và hiệu quả.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Đổi vai

Trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, trước đây, nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài thường gắn với lợi thế vốn lớn, nhiều kinh nghiệm. Nhưng hiện tại, không phải quỹ nước ngoài nào cũng có những lợi thế đó.

Hiệp hội Dệt may Việt Nam vẫn duy trì được mức xuất siêu 9,2 tỷ USD. Ảnh: NAM NGUYỄN

Hướng tới mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu

Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại quốc tế chịu nhiều tác động từ biến động địa - chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Những yếu tố này vừa tạo ra thách thức, vừa mở ra nhiều cơ hội mới cho hàng hóa Việt Nam nếu doanh nghiệp chủ động thích ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường.

Tự mở kênh bán hàng trực tuyến

Mặc dù các sàn thương mại điện tử (TMĐT) lớn như Shopee, TikTok Shop, Lazada, Tiki… đang bao trùm thị trường nhưng không ít đơn vị kinh doanh vẫn thiết lập một kênh bán hàng riêng cho mình.