(Tiếp theo và hết)(★)
Những điểm nghẽn trong thực thi
Ông Phạm Tất Đạt, Trưởng phòng Địa chất và Khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên cho biết, sau khi sắp xếp bộ máy, khối lượng công việc tăng lên rất lớn, nhân lực chuyên môn lại mỏng. Trước đây, lĩnh vực khoáng sản được phân chia cho nhiều đầu mối, nay nhiệm vụ tập trung hơn nhưng số người làm trực tiếp chưa đáp ứng yêu cầu. Theo phản ánh của các địa phương, cấp xã có nhu cầu đầu tư flycam, thiết bị giám sát, phần mềm, máy móc chuyên dụng để theo dõi khai thác trái phép, song không có kinh phí. Sự thay đổi pháp luật nhanh cũng tạo áp lực thích ứng cho địa phương; địa phương phải vừa hướng dẫn, vừa cập nhật, vừa tổ chức thực hiện trong thời gian ngắn.
Một khó khăn khác đối với khoáng sản nhóm II là thủ tục, trình tự pháp lý còn kéo dài và thiếu linh hoạt. Khi lập quy hoạch mỏ, việc đánh giá ban đầu về chất lượng, trữ lượng thường ở quy mô nhỏ, khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư quy mô lớn ngay từ đầu. Nhưng khi nhu cầu cho các dự án đầu tư công tăng mạnh, nếu muốn nâng công suất khai thác thì doanh nghiệp gần như phải thực hiện lại hàng loạt thủ tục, từ điều chỉnh chủ trương đầu tư, thăm dò bổ sung đến xin cấp phép, điều chỉnh cấp phép, có thể kéo dài từ 1-3 năm.
Ở góc độ vĩ mô, ông Mai Thế Toản, Phó Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu kinh phí cho điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản để xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên và trữ lượng khoáng sản. Điểm nghẽn thứ hai là thiếu hụt cơ chế, chính sách đãi ngộ và thu hút nguồn nhân lực được đào tạo chuyên ngành địa chất, khoáng sản.
Thực tế, nguồn nhân lực trong lĩnh vực này đang thiếu, và về dài hạn có nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng do ít người học, ít người tham gia điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản. Nguyên nhân nằm ở chế độ tiền lương, thu nhập tăng thêm và điều kiện lao động đi rừng, đi núi chưa đủ sức thu hút. Bên cạnh đó, đến nay các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản chưa được ban hành. Do vậy, một số nội dung chưa được quy định cụ thể về chế tài xử phạt, có thể dẫn đến khoảng trống pháp lý.
Xử lý bất cập về quản lý, khai thác
Chi phí cải tạo, phục hồi môi trường khai thác thường rất lớn, trong khi việc xác định mức ký quỹ trong một số trường hợp chưa thật sát với điều kiện thực tế của từng dự án. Do đó, nếu doanh nghiệp phá sản hoặc không còn khả năng đóng cửa mỏ thì số tiền ký quỹ có thể không đủ để cơ quan nhà nước tổ chức cải tạo, phục hồi môi trường một cách đầy đủ. Vì vậy, thời gian tới, cơ chế xác định ký quỹ cần được hoàn thiện theo hướng sát thực tế hơn, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và có chế tài đủ mạnh nhằm bảo đảm cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác được hiệu quả, bền vững.
Hiện, một số mỏ khoáng sản đã thực hiện đóng cửa mỏ trước khi Luật Địa chất và Khoáng sản có hiệu lực nhưng vẫn tồn tại nghĩa vụ nợ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Trong đó, có một số mỏ doanh nghiệp được cấp phép chưa khai thác hoặc mới khai thác một phần rất nhỏ trữ lượng được cấp phép.
Hệ thống dữ liệu của cơ quan thuế vẫn ghi nhận các doanh nghiệp này nợ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và số tiền phải nộp tiếp tục tăng lên hằng năm do phát sinh tiền chậm nộp. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 99 Luật Địa chất và Khoáng sản: “Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế”; khoản 1 Điều 139 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 của Chính phủ cũng quy định tổ chức, cá nhân được thực hiện quyết toán khi đóng cửa mỏ. Tuy nhiên, Luật Địa chất và Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa quy định cụ thể việc quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các giấy phép khai thác khoáng sản đã hết hiệu lực và đã đóng cửa mỏ trước ngày 1/7/2025. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng để xử lý nghĩa vụ tài chính về tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các doanh nghiệp cần nghiên cứu, bổ sung quy định về việc quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các mỏ đã đóng cửa mỏ trước ngày 1/7/2025.
Thêm vào đó, cần sớm nghiên cứu, ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các nghị định đã có nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cao Bằng, cần có cơ chế tháo gỡ vướng mắc về sử dụng đất đá thải mỏ làm vật liệu san lấp để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn; có chính sách hỗ trợ kinh phí thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản cho các địa phương miền núi khó khăn; xem xét thẩm quyền phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thực hiện đồng thời với thẩm quyền ký giấy phép khai thác.
Hiện nay, khoáng sản nhóm I do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp phép khai thác, nhưng lại giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực khoáng sản cũng cần được đơn giản hóa hơn nữa.
Theo đại diện Cục Địa chất và Khoáng sản, giải pháp ưu tiên là thúc đẩy hợp tác quốc tế về địa chất, khoáng sản; đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút thêm nguồn lực đầu tư vào điều tra cơ bản địa chất và khoáng sản, nhất là đối với khoáng sản ngoài khơi, khoáng sản ẩn sâu; có cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút nguồn nhân lực từ khâu đào tạo đến sử dụng.
----------------------------------
(★) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 26/4/2026.