Đọc cũng có niềm vui cảm nhận được sự hào hứng của người nghiên cứu khi đắm trong chặng dài sáng tác của một tác giả, có khi qua nhiều năm, nhiều tập thơ, để rồi phấn khởi nhận ra một “trái tim thơ”, “lõi thơ”, “mệnh thơ” nào đó. Văn Giá chia sẻ những nhận định của ông mà có thể sẽ khiến nhiều người khác đồng thuận, cùng nhận rõ hơn, và đồng cảm. Như với Văn Cao, ông cho rằng, từ khoảng năm 1956 đến đầu những năm 90, “Văn Cao đã rút hẳn vào trong thế giới nội cảm, ưu tư nhân thế và thân thế”. Với Trần Hòa Bình, “thích đi và được đi như là một bản mệnh”, các bài thơ tình của con người ấy “mang một cái giọng ru tình dìu dặt, vỗ về với nhiều tự thương và xa xót”. Còn nhà thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh lại “tạo dựng hình tượng CHỮ mang đầy tính nữ, kiều diễm và gợi cảm”…
Đọc, cũng còn để thấy nể về nghề nữa, khi kết quả của sự đọc nhiều và ngẫm ngợi công phu cùng với bản thảo ban đầu chắc cũng không thể kiệm lời, nhưng cuối cùng mỗi gương mặt được cô đọng lại rất gọn gàng, do dung lượng trang mục trên báo. Có những gom nén như thế lại cho ta thấy nét lấp lánh của sự phát hiện, ghi nhận, đồng nghĩa với tôn vinh các nhà thơ về cả lao động thi ca và giá trị sáng tạo. Và như thế, cũng đồng nghĩa với việc biểu lộ giá trị của chính nhà phê bình trong việc đọc ra những người thơ, cõi thơ. PGS, TS Văn Giá cho rằng, “với thi sĩ Trần Hùng, cái thế giới u huyền ấy đã tìm đến loại thơ chủ thể về thanh bằng ngang”. Ông ghi nhận Phùng Thị Hương Ly “công khai và kiêu hãnh căn cước của mình”, vừa “biếc thơm trong hương sắc thổ ngơi” mà vẫn “thấm nhuần tinh thần hiện đại”. Ông khám phá biểu tượng nghệ thuật “sương” trong thơ Lương Kim Phương. Ông phân tích sự tự thân mang căn tính Dao của Lý Hữu Lương trong thơ. Hoặc với Lữ Mai, “chiêu thức” nghệ thuật của cô chính là cách “mơ hồ hóa” để tạo nghĩa, sinh sôi nghĩa”. Còn ở Nguyễn Thị Kim Nhung, đó là sự “vừa có phần tịch mịch lại vừa như xao động”…
Đọc “Người thơ trong cõi thơ” còn có tình ấm áp của sự gần gũi, thân mến giữa nhà phê bình với người sáng tác, vừa ở mối quan hệ bằng hữu, đồng nghiệp, thầy trò giữa họ, vừa trong mối liên tài giữa những người văn chương. Vì thế mà đọc thấy có chia sẻ, đồng điệu; thấy văn phê bình ít nhiều liên tưởng, soi chiếu rộng thêm từ khía cạnh con người, tâm hồn. Nhờ thế mà khổ đoạn, câu chữ nhiều khi nhẹ nhàng, cuốn hút vì đọc về sáng tác cũng đang là đọc về con người, nét người.
Đọc, cũng để thấy thêm trợ lực đáng trọng khi một số báo chí đã đăng các bài viết trong cuốn sách này như Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Văn nghệ Thái Nguyên, nhiều nhất là Nhân Dân hằng tháng. Điều đó gợi hy vọng và kỳ vọng mạch văn tiếp tục được dưỡng nuôi, khơi lên bền bỉ và tươi thắm hơn nữa trên trang báo, trong những tháng năm này, khi các trang mục về văn học đang vắng bóng dần.