Vì sao kịch Lưu Quang Vũ vẫn hấp dẫn?

Trước khi về cõi, giữa tháng 7-2015, đạo diễn, NSND Đình Quang còn trao đổi với tôi rằng, khủng hoảng lớn nhất của sân khấu Việt hiện đại là khủng hoảng người xem, vì sân khấu đã và đang rời xa bản chất của chính nó là loại hình nghệ thuật đặc thù; tác phẩm kịch được viết bằng phương thức đối thoại, nhằm thể hiện xung đột từ đời sống, được dàn dựng, biểu diễn, nhằm mục đích cao nhất là đối thoại với người xem.

Cảnh trong vở kịch Lời thề thứ 9 của Lưu Quang Vũ.
Cảnh trong vở kịch Lời thề thứ 9 của Lưu Quang Vũ.

Tôi chia sẻ và đồng thuận với NSND Đình Quang, người đạo diễn vở kịch cuối cùng của Lưu Quang Vũ trước khi Vũ mất: vở Bệnh sĩ cho Nhà hát kịch Việt Nam. Cuối tuần này sẽ diễn ra đêm kịch “Lưu Quang Vũ - Người trong cõi nhớ” tại Cung văn hóa Hữu nghị, từ ngày 28-8 đến1-9, với bốn vở: Lời thề thứ 9, Ai là thủ phạm, Mùa hạ cuối cùng, Nàng Sita. Đây là lần thứ ba những đêm kịch Lưu Quang Vũ được tổ chức, tiếp nối thành công của hai lần trước đó, nhất là lần thứ nhất, khi Liên hoan Kịch Lưu Quang Vũ gồm 10 vở do 12 đoàn diễn tại Hà Nội năm 2013. Sự kiện nổi bật ấy đã chứng minh rằng, người xem của sân khấu Thủ đô hôm nay, và không chỉ Thủ đô, vẫn rất thích xem, để được đối thoại với kịch Lưu Quang Vũ. Và những vấn đề thời sự-xã hội "nóng hổi" được đưa vào trong kịch Lưu Quang Vũ cho đến nay vẫn còn vẹn nguyên tính thời sự, vẫn ám ảnh người xem. Hơn thế, có vở kịch của Lưu Quang Vũ đã chạm tới vấn đề có tính thời sự-nhân văn ở phạm vi toàn cầu, như trường hợp vở Hồn Trương Ba, da Hàng thịt. Sau khi được đạo diễn, NSND Nguyễn Đình Nghi dàn dựng thành công năm 1990, vở này đã tham dự Liên hoan sân khấu kịch quốc tế tại thủ đô Mát-xcơ-va, tranh tài với hàng chục cường quốc sân khấu kịch ở Đông Âu. Và bất ngờ, Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã gây bùng nổ ngoạn mục cho công chúng bởi sự khác lạ, đặc sắc của phương pháp xử lý sân khấu Việt; từ cách viết kịch của Lưu Quang Vũ, cách dàn dựng của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, đến cách diễn kịch lành nghề của nghệ sĩ sân khấu Việt hiện đại, dắt dẫn người xem đối diện với một vấn đề luôn đặt ra cho công chúng toàn cầu suy ngẫm: Liệu người ta có thể đem tâm hồn mình sống gửi trong thân xác người khác như tha nhân không? Vở diễn này đã khẳng định là không, theo cách trình diễn kịch rất độc đáo, trong sự giao hòa quấn quyện giữa cái hồn Á Đông của sân khấu truyền thống Việt, với hình thái kịch nghệ hiện đại của thể loại kịch phương Tây, chỉ mới du nhập và được Việt hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã đoạt huy chương vàng và được trao giải vở diễn thành công nhất tại Liên hoan năm đó, trở thành vở kịch Việt đầu tiên chiến thắng trên kịch trường quốc tế. Năm 1998, vở kịch này tiếp tục chinh phục công chúng tại hơn 20 trường đại học ở Mỹ, trong chương trình giao lưu sân khấu Việt - Mỹ. Hồn Trương Ba, da hàng thịt đã rong ruổi vào TP Hồ Chí Minh, với một hình thức sân khấu lạ biệt: hợp diễn nghệ sĩ kịch hai miền nam - bắc, sử dụng trên sàn diễn cả hai thứ giọng: Hà Nội-Sài Gòn, vẫn dưới bàn tay dàn dựng của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi. Sau những thành công ngoạn mục ấy về mọi phương diện sân khấu, cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài, nhất là thành công về nghệ thuật viết kịch của Lưu Quang Vũ, Hồn Trương Ba, da hàng thịt xứng đáng đạt tới một số phận văn hóa. Và vở diễn này chính là điểm son lộng lẫy trong Giải thưởng Hồ Chí Minh cho toàn bộ sự nghiệp văn chương và kịch nghệ của Lưu Quang Vũ.

Vốn là một thi sĩ tài hoa, với tài năng thơ ca bẩm sinh, lại được sống và làm việc, thử thách nhiều năm trong lĩnh vực sân khấu, trực giác thiên bẩm của thi sĩ đã mách bảo Lưu Quang Vũ tìm đến với thể loại kịch, để trở thành một nhà viết kịch thật sự đổi mới, thấu hiểu những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội Việt hiện đại và từ đó thiết lập được cuộc đối thoại với công chúng đương thời. Dùng phương thức kịch, Lưu Quang Vũ thấy mình đầy ưu thế, khi kịch bản văn chương được chính mình tổ chức xung đột, giữa cái mới và cái cũ, cái bảo thủ trì trệ và cái tích cực tiến bộ, như: Tôi và chúng ta. Lời thề thứ 9, Trái tim trong trắng, Ông không phải là bố tôi, Mùa hạ cuối cùng, Ai là thủ phạm, Khoảnh khắc và vô tận. Và xung đột giữa cái ác, cái thiện, cái đẹp, cái xấu, cái nhân tính và phi nhân tính, trong các kịch bản: Bông cúc xanh trên đầm lầy, Người trong cõi nhớ, Người tốt nhà số 5, Nguồn sáng trong đời, Tin ở hoa hồng, Vụ án 2000 ngày và Hồn Trương Ba, da hàng thịt... Thời ấy, trong hơn 100 nhà hát và đơn vị sân khấu toàn quốc, hầu như không nơi nào lại không mong muốn được dựng kịch Lưu Quang Vũ. Kịch Lưu Quang Vũ, bởi thế, rất quyến rũ người xem hiện đại, buộc họ phải nảy sinh tự nhiên nhu cầu xem kịch, ngay cả khi Lưu Quang Vũ đã thành người trong cõi nhớ, như tên của chương trình kịch Lưu Quang Vũ năm nay, được tổ chức sau ngày mất Lưu Quang Vũ đã 27 năm…

Có thể nói, việc dàn dựng mới những kịch bản của Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ vẫn giữ nguyên giá trị về tính hiện đại cho đến thế kỷ 21 này, cho thấy công chúng Việt vẫn rất yêu sân khấu, vẫn rất thích cách viết kịch của Lưu Quang Vũ. Bởi vì, kịch của Vũ luôn luôn nồng đượm hơi thở của đời sống hiện đại, với những vấn đề luôn nóng hổi tính thời sự được phát hiện từ con mắt và tấm lòng tràn đầy yêu thương của ông với cuộc đời. Ngoài vấn đề triết học-nhân sinh được ráo riết đặt ra trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt, các kịch bản khác của Lưu Quang Vũ luôn hàm chứa những vấn đề thời sự của đời sống đô thị Việt, khiến người xem hiện đại được soi mình trong đó, được đối thoại, được gợi mở cách giải quyết, được thức tỉnh tinh thần đến mức có thể thay đổi hành vi, nhận thức và lối sống.

Do vậy, trong tình thế sân khấu Việt hiện đại vẫn chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng người xem, như nhận định của NSND Đình Quang, thì những vở kịch Lưu Quang Vũ luôn được dàn dựng mới và biểu diễn, vẫn có ý nghĩa tích cực trong việc níu kéo và hấp dẫn người xem Việt trở lại đối thoại với sân khấu. Kịch Lưu Quang Vũ đã không chỉ đối thoại được với thời của ông, mà còn đối thoại được với hôm nay, và có lẽ, không chỉ hôm nay…

Có thể bạn quan tâm

Các thí sinh World Master Tea Việt Nam 2026 cùng Ban tổ chức và các doanh nhân, nghệ nhân tham quan, trải nghiệm tại Hợp tác xã Chè La Bằng. (Ảnh: ESG Valley)

Trà Thái Nguyên, hành trình từ di sản đến sáng tạo

Trong khuôn khổ Festival Trà Quốc tế-Thái Nguyên 2026, công chúng yêu văn hóa trà trong nước và quốc tế có dịp dõi theo và cảm nhận một hành trình đặc biệt, khi 20 thí sinh xuất sắc nhất Cuộc thi World Master Tea Việt Nam 2026 cùng khám phá vùng nguyên liệu, kế thừa truyền thống và thi tài, sáng tạo thêm giá trị cho trà Việt.

Chương trình đầu tiên của “Ký ức Cải lương - Sử Việt” mang đến vở cải lương kinh điển “Tiếng trống Mê Linh”. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Chương trình “Ký ức Cải lương - Sử Việt”: Lan tỏa giá trị cải lương lịch sử

Hướng tới xây dựng không gian biểu diễn, giao lưu giữa các đoàn nghệ thuật, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị cải lương gắn với lịch sử dân tộc và mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, Đoàn Nghệ thuật Cải lương Vàm Cỏ (tỉnh Tây Ninh) ra mắt chương trình “Ký ức Cải lương - Sử Việt”, dự kiến tổ chức định kỳ mỗi quý một số.

Du khách hào hứng thăm các khu trưng bày trong chuỗi sự kiện Kết nối nghệ thuật Đà Nẵng.

Từ lũy tre phố Hội đến “Những mảnh rời”: Khi chất liệu bản địa bước vào không gian đương đại

Tại sự kiện Kết nối nghệ thuật sáng tạo Đà Nẵng (DACC 2026), công chúng không chỉ tham quan các hiện vật lịch sử theo cách truyền thống. Qua bàn tay chế tác của nghệ nhân và tư duy sắp đặt của các nghệ sĩ đương đại, những chất liệu quen thuộc đã được làm mới, truyền tải rõ nét thông điệp “Lịch sử của ngày mai”.

Nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh (bên phải ảnh) được trao giải Nhất Cuộc thi “HUMG trong trái tim tôi” với ca khúc “Mỏ-Địa chất hôm nay-ngày mai”. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh và mối duyên âm nhạc với mái trường Mỏ - Địa chất

Ngày 2/11, Trường đại học Mỏ-Địa chất (HUMG) tổ chức Trao giải thưởng Cuộc thi “HUMG trong trái tim tôi”. Được trao giải Nhất ở lĩnh vực sáng tác âm nhạc, ca khúc “Mỏ-Địa chất hôm nay - ngày mai” của nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh thu hút sự chú ý bởi câu chuyện gắn bó đặc biệt giữa tác giả với mái trường.

Chương trình hội tụ những kiệt tác âm nhạc cổ điển thế giới cùng các sáng tác đương đại Việt Nam do các nghệ sĩ Khoa Piano thể hiện, thu hút hơn 700 khán giả tại Phòng Hòa nhạc lớn Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. (Ảnh: Ban tổ chức)

Dấu ấn của các nghệ sĩ giảng viên piano trên hành trình nghệ thuật 70 năm

32 nghệ sĩ, giảng viên, bốn cây đàn piano đã tạo nên một đêm hòa nhạc đặc biệt nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Chương trình hội tụ những kiệt tác âm nhạc cổ điển thế giới, opera và giao hưởng cùng các sáng tác đương đại Việt Nam, cho thấy chiều sâu chuyên môn của đội ngũ giảng viên Khoa Piano.

Cuộc thi hát ca khúc tiếng Trung năm 2026 góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức)

Phát động cuộc thi hát ca khúc tiếng Trung “Tiếng hát chạm đến trái tim - Cất vang tình hữu nghị Việt-Trung”

Góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp Trung tâm Văn hóa Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức cuộc thi hát ca khúc tiếng Trung năm 2026 với chủ đề “Tiếng hát chạm đến trái tim - Cất vang tình hữu nghị Việt-Trung”.

Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch VFDA và các vị khách mời trong nước, quốc tế tham dự hội thảo. (Ảnh: VFDA)

Đưa điện ảnh Việt Nam ra quốc tế nhìn từ kinh nghiệm của Nhật Bản

Hội thảo “Vietnamese Cinema in an Interconnected Asia: Cultural Identity, Creativity and International Collaboration” (Điện ảnh Việt Nam trong một châu Á kết nối: Bản sắc văn hóa, sáng tạo và hợp tác quốc tế) là dịp trao đổi về hướng phát triển điện ảnh Việt Nam, giữ gìn và lan tỏa bản sắc trong bối cảnh hội nhập.

Vòng chấm Chung khảo Giải Báo chí toàn quốc "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam" lần thứ tư diễn ra vào chiều 2/11. (Ảnh: TRẦN HUẤN)

Chung khảo Giải Báo chí toàn quốc "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam" năm 2026

Trải qua quá trình thẩm định độc lập, thảo luận, chấm chọn công tâm, 108 tác phẩm xuất sắc được chọn vào Vòng chấm Chung khảo Giải Báo chí toàn quốc "Vì sự nghiệp phát triển Văn hóa Việt Nam" năm 2026. Theo đó, có 25 tác phẩm báo in, 30 tác phẩm báo điện tử, 15 tác phẩm phát thanh, 20 tác phẩm truyền hình và 18 tác phẩm báo ảnh.

Phạm Thị Thủy Tiên đưa những câu chuyện văn hóa đến gần công chúng qua tranh minh họa. (Ảnh THẢO CHI)

Trách nhiệm của người sáng tạo nội dung số

Nội dung về văn hóa, lịch sử xuất hiện ngày càng nhiều trên các nền tảng số với những cách thể hiện sinh động, giúp công chúng dễ dàng tiếp cận hơn. Tuy nhiên, sức lan tỏa ấy cũng đặt ra yêu cầu về tính chính xác về thông tin và trách nhiệm của người sáng tạo.

Không gian Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám. (Ảnh: MINH DUY)

Sắp ra mắt sơ đồ và tờ gấp tham quan mới tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Nhân kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), ngày 3/11, Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám phối hợp Đại sứ quán Pháp, Viện Pháp tại Việt Nam và Trường đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức Lễ ra mắt sơ đồ và tờ gấp hướng dẫn tham quan mới tại khu di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Bạn đọc trẻ tiếp cận công nghệ tại Hội Sách Hà Nội lần thứ 11. (Ảnh: BTC HỘI SÁCH)

Ngày hội Văn hóa đọc cho thanh thiếu nhi

Ngày 31/10, tại Phố Sách Hà Nội (phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội), Thành đoàn Hà Nội lần đầu tổ chức Ngày hội Văn hóa đọc trong thanh thiếu nhi Thủ đô năm 2026. Sự kiện thu hút khoảng 400 đoàn viên, đội viên, sinh viên, thanh thiếu nhi cùng đông đảo người dân tham gia.

Chương trình hòa nhạc với sự tham gia biểu diễn của Dàn nhạc Giao hưởng Mặt Trời (Sun Symphony Orchestra). (Ảnh: THANH TÙNG)

Lan tỏa giá trị nghệ thuật trong môi trường giáo dục

Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập (11/10/1951-11/10/2026), Trường đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp Dàn nhạc Giao hưởng Mặt Trời tổ chức chương trình dành cho cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường, góp phần lan tỏa tình yêu âm nhạc hàn lâm, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần trong môi trường giáo dục đại học.