Tự điều trị kháng sinh, bệnh nhân gặp hậu quả khó lường

Tự điều trị kháng sinh tại nhà, một nữ bệnh nhân bị mắc viêm thận bể thận cấp tính, cần lập tức nhập viện điều trị nội trú.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Sai lầm khi tự ý điều trị kháng sinh

Liên tục 4 ngày nay, chị D. (36 tuổi, ở Hà Nội) đột nhiên sốt cao 40 độ C, kèm theo biểu hiện đau quặn bụng mạn sườn phải, tiểu buốt, tiểu rát, ăn uống kém, đại tiện phân nát. Lo lắng thấy tình trạng không thuyên giảm, gia đình nhanh chóng đưa chị T. đến khám tại Bệnh viện đa khoa Medlatec.

Tiếp nhận ca bệnh, bác sĩ tiến hành thăm khám lâm sàng và chỉ định thực hiện các xét nghiệm cần thiết, siêu âm ổ bụng và chụp CT hệ tiết niệu. Kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ số nhiễm khuẩn của bệnh nhân tăng cao, đồng thời, hình ảnh CT phát hiện dịch tụ quanh thận, nhu mô thận phải không đều, đặc biệt vùng sau bể thận. Bác sĩ chẩn đoán xác định bệnh nhân mắc viêm thận bể thận cấp tính, cần lập tức nhập viện điều trị nội trú.

Tiến sĩ, bác sĩ Ngô Chí Cương, Trưởng khoa Nội, Bệnh viện đa khoa Medlatec nhận định đây là ca bệnh phức tạp, quá trình điều trị cần rất thận trọng. Bệnh nhân cho biết trước đó đã từng viêm đường tiết niệu và tự ý dùng kháng sinh điều trị nhiều lần. Tuy nhiên, quá trình điều trị không có sự hướng dẫn của bác sĩ, bệnh nhân dùng thuốc không đúng cách, khiến tình trạng nhiễm trùng tái đi tái lại nhiều lần.

Do vậy, để có thể điều trị hiệu quả, bác sĩ đã chỉ định cấy máu, cấy nước tiểu để phân lập chủng vi khuẩn gây bệnh và đánh giá mức độ nhạy cảm kháng sinh qua kết quả kháng sinh đồ. Từ đó có thể lựa chọn loại kháng sinh phù hợp nhất với bệnh nhân, hạn chế tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn khiến quá trình điều trị kéo dài.

May mắn, sau 5 ngày được theo dõi sát sao và điều trị tích cực tại viện, kết quả cấy máu, cấy nước tiểu của bệnh nhân âm tính. Chị T. được xuất viện điều trị ngoại trú, tuy nhiên vẫn cần tuân thủ dùng thuốc và sinh hoạt đúng cách theo hướng dẫn của bác sĩ.

Từ trường hợp của bệnh nhân T., bác sĩ đưa ra cảnh báo “đỏ” đến tất cả người dân: Khi có dấu hiệu viêm nhiễm đường tiết niệu, tuyệt đối không được tự ý dùng kháng sinh bừa bãi. Điều này có thể dẫn đến việc bệnh không khỏi dứt điểm và gây ra tình trạng kháng kháng sinh khiến quá trình điều trị trở nên khó khăn hơn.

Biến chứng nguy hiểm của viêm thận bể thận cấp

Viêm thận bể thận cấp tính là tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên, do vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, lan lên bàng quang, đi qua niệu quản và tấn công thận. Bệnh dẫn đến tình trạng viêm nhiễm chung quanh đài thận, bể thận, niệu quản và nhu mô thận.

Bệnh thường khởi phát các triệu chứng ngay trong vòng 2 ngày sau khi vi khuẩn tấn công, điển hình như: sốt cao trên 38, 9 độ C, đau bụng, lưng, hông, bẹn, đau rát khi đi tiểu, nước tiểu đục/có mủ/có máu…

Tiến sĩ, bác sĩ Ngô Chí Cương cho biết, bệnh lý nhiễm khuẩn đường tiết niệu này có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm sau: Áp xe thận và vùng chung quanh thận. Áp xe là hiện tượng xuất hiện ổ mủ quanh thận, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn huyết.

Người bệnh có thể gặp tình trạng nhiễm khuẩn huyết, là tình trạng vi khuẩn lan vào trong máu khiến nhiễm trùng toàn thân nặng, có thể gây ra tình trạng sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng, gây nguy hiểm đến tính mạng.

Hoại tử nhú thận cũng là nguy cơ biến chứng của viêm cầu thận. Nhú thận là nơi nước tiểu chảy vào niệu quản, khi hoại tử, nhú thận bong ra và theo nước tiểu gây nên tình trạng tắc nghẽn ở niệu quản hoặc niệu đạo. Từ đó, người bệnh có nguy cơ suy thận cấp do ứ mủ bể thận.

Suy thận cấp là biến chứng nguy hiểm của viêm thận bể thận cấp, gây ra tình trạng tăng huyết áp cấp, phù phổi cấp và đe dọa nguy hiểm đến tính mạng.

Tình trạng viêm thận bể thận cấp bị kháng kháng sinh và tái viêm thường xuyên có thể dẫn đến viêm thận bể thận mạn, suy thận mạn. Lúc này việc điều trị sẽ trở nên khó khăn và tốn kém hơn cho người bệnh.

Bên cạnh dựa vào các biểu hiện lâm sàng của bệnh, để chẩn đoán chính xác và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả, bác sĩ sẽ dựa vào các phương pháp cận lâm sàng sau để chẩn đoán bệnh gồm xét nghiệm công thức máu, cấy máu, cấy nước tiểu cấp, siêu âm và chụp CT hệ thận-tiết niệu.

Có thể bạn quan tâm

Người dân tìm hiểu thông tin về chế độ dinh dưỡng dành cho người mắc các bệnh không lây nhiễm tại cơ sở khám, chữa bệnh. (Ảnh: VÂN VÂN)

Phòng bệnh sớm từ chế độ ăn uống

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng do các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp… Xu hướng này thường gắn với thói quen ăn uống không lành mạnh, nhất là việc sử dụng nhiều muối, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường của người dân.

Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng Quỹ Phòng bệnh. (Ảnh: LÊ HẢO)

Quỹ Phòng bệnh chính thức ra mắt đi vào hoạt động

Ngày 20/8, Quỹ Phòng bệnh (Bộ Y tế) - một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập giúp huy động, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, bổ sung kịp thời cho những khoảng trống mà ngân sách nhà nước chưa đáp ứng đủ cho công tác phòng bệnh chính thức ra mắt.

Các bác sĩ thực hiện ca can thiệp. (Ảnh: SỸ HIẾU)

Nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi cho cháu bé bị gãy xương cánh tay

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Linh Đàm) vừa xử lý nắn chỉnh kín và cố định xương bằng đinh nội tủy đàn hồi qua hai đường rạch da khoảng 5mm, giúp cháu bé hạn chế bóc tách mô mềm, bảo tồn tối đa màng xương, nguồn cấp máu và vùng sụn tăng trưởng của trẻ.

Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y trao Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng tặng Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu. (Ảnh: TUẤN DŨNG)

Nâng cao toàn diện chất lượng khám, chữa bệnh, phát triển kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị bệnh lý về thận

Ngày 20/8, tại Hà Nội, Bộ môn-Khoa Thận và Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y) tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày truyền thống (21/8/2006-21/8/2026) và đón nhận Bằng khen của Bộ trưởng Quốc phòng. Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, Phó Chính ủy Học viện Quân y dự và chúc mừng đơn vị.

Ê-kíp các bác sĩ Bệnh viện K thực hiện phẫu thuật cho người bệnh. (Ảnh: BVCC)

Phẫu thuật thay toàn bộ xương đùi, giữ lại chân cho bệnh nhân bị ung thư xương

Với người bệnh 59 tuổi, việc đối diện với căn bệnh ung thư xương, nguy cơ phải cắt bỏ toàn bộ xương đùi là một thách thức rất lớn về cả sức khỏe và tâm lý. Do đó, cân nhắc phương án phẫu thuật loại bỏ tổn thương mà vẫn giữ được đôi chân là mong muốn của cả ê-kíp bác sĩ và gia đình người bệnh.

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)

Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả

Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Tổn thương do giun rồng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Thêm một ca giun rồng được phát hiện tại Việt Nam

Bệnh viện Đặng Văn Ngữ vừa tiếp nhận bệnh nhân nam 49 tuổi ở Lào Cai, có 2 tổn thương trên cẳng tay trái. Trước khi đến viện, người bệnh đã được người nhà kéo ra hai đoạn giun màu trắng dài khoảng 10-20cm. Đây là trường hợp mắc giun rồng thứ 44 được ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Bệnh nhân bình phục sức khỏe và được ra viện sáng 19/8.

Một tháng nguy kịch do Covid-19, bệnh nhân được cứu sống nhờ can thiệp ECMO

Mắc Covid-19 biến chứng ARDS, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, nam bệnh nhân 43 tuổi từng ở trong tình trạng nguy kịch, phải thở máy, lọc máu và sử dụng ECMO. Sau gần một tháng hồi sức tích cực với nhiều kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), bệnh nhân đã hồi phục, được cai máy thở và xuất viện sáng 19/8.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh thiết kế bởi AI)

Bữa ăn của người Việt đang “dư năng lượng, thiếu vi chất”

Dù lượng muối tiêu thụ trung bình của người Việt đã giảm từ 9,42g/ngày năm 2015 xuống 8,07g/ngày năm 2021, mức này vẫn cao khoảng 1,6 lần khuyến nghị của WHO. Trong khi đó, tiêu thụ đồ uống có đường tăng tới 350% trong 15 năm, cho thấy những thách thức lớn trong thay đổi thói quen ăn uống và phòng ngừa bệnh không lây nhiễm.