Khi tài sản sáng tạo trở thành nguồn lực kinh tế
Sự phát triển của môi trường số đang làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Một bài hát, bộ phim, cuốn sách, bức ảnh, thiết kế, trò chơi hay chương trình máy tính có thể được đưa đến hàng triệu người dùng chỉ trong thời gian rất ngắn. Điều này mở ra thị trường rộng lớn chưa từng có cho các nhà sáng tạo. Nhưng đi cùng với đó là một nghịch lý: Càng dễ tiếp cận thì tài sản trí tuệ càng dễ bị sao chép, khai thác và phát tán ngoài sự kiểm soát của chủ sở hữu.
Số liệu từ Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam cho thấy, năm 2025 doanh thu tiền sử dụng tác quyền đạt hơn 424,3 tỷ đồng, tăng 8%; riêng từ website và ứng dụng số doanh thu đạt gần 298 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy doanh thu từ hoạt động bản quyền đã đem lại giá trị kinh tế đáng kể trên môi trường số. Tác phẩm không còn chỉ là sản phẩm văn hóa đơn thuần mà đã trở thành một loại tài sản có khả năng tạo doanh thu, làm cơ sở cho hoạt động cấp phép, chuyển nhượng và đầu tư.
Theo Tiến sĩ Phan Văn Hùng, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, trong môi trường số, nội dung có thể bị sao chép, phát tán với tốc độ rất nhanh; một nội dung bị gỡ ở nơi này có thể xuất hiện ngay ở nơi khác. Trong khi đó, các hành vi vi phạm ngày càng được thực hiện bằng công nghệ và ở quy mô lớn. Do đó, nếu cơ chế bảo vệ quyền chỉ phản ứng theo từng vụ việc thì rất khó theo kịp thực tiễn.
Yêu cầu đặt ra là thể chế phải đi trước một bước, vừa bảo đảm quản lý, vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo. Đây cũng là tinh thần của định hướng xây dựng hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo, đồng thời hình thành văn hóa tôn trọng sáng tạo và hoàn thiện thể chế thích ứng với kinh tế số, nền tảng số và không gian mạng.
Trong môi trường truyền thống, việc xác định hành vi vi phạm bản quyền thường tương đối trực quan. Nhưng trên không gian số, một hành vi có thể được thực hiện qua nhiều lớp chủ thể, nhiều nền tảng và nhiều quốc gia. Một tài khoản có thể bị khóa nhưng người vận hành lập tức tạo tài khoản khác. Một đường dẫn bị gỡ có thể được thay thế bằng hàng chục đường dẫn mới. Một nội dung bị xóa khỏi nền tảng này có thể tiếp tục xuất hiện trên nền tảng khác.
Một nền kinh tế sáng tạo không thể phát triển bền vững nếu quyền sở hữu trí tuệ chỉ tồn tại dưới dạng giấy chứng nhận mà chưa trở thành một tài sản có khả năng giao dịch. Muốn vậy, cần hình thành một thị trường quyền tác giả và quyền liên quan vận hành minh bạch, trong đó người sáng tạo có thể xác lập quyền, tìm kiếm người sử dụng, cấp phép và nhận tiền; doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tài sản trí tuệ hợp pháp; còn cơ quan quản lý có khả năng theo dõi và xử lý tranh chấp.
Theo ông Phạm Văn Tài, Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo, mỗi tài sản trí tuệ cần có một dấu vết quyền rõ ràng để có thể xác định tác phẩm, chủ thể quyền, phạm vi quyền và lịch sử sử dụng. Cùng với đó, cần một nền tảng trung gian kết nối người có quyền, người sử dụng, tổ chức đại diện, công nghệ và cơ quan quản lý. Mục tiêu cuối cùng là biến quyền thành tài sản có thể khai thác và hình thành thị trường quyền hợp pháp trên môi trường số.
AI làm thay đổi bài toán bản quyền số
Theo ông Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhà sáng lập Công ty cổ phần Công nghệ Dipnet, công nghệ blockchain có thể được ứng dụng để định danh số cho tác phẩm, hỗ trợ rà quét và phân phối doanh thu bản quyền trực tiếp tới nhà sáng tạo.
Dù công nghệ không thể thay thế pháp luật, việc ứng dụng các công cụ số để tạo dấu vết quyền và minh bạch dòng tiền có thể trở thành một cấu phần quan trọng của hạ tầng bảo vệ tài sản trí tuệ.
Nếu công nghệ số đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế quản lý bản quyền mới thì trí tuệ nhân tạo (AI) đang đẩy vấn đề này sang một cấp độ khác. AI tạo sinh có thể tạo ra văn bản, hình ảnh, âm nhạc, video và mã nguồn chỉ từ một câu lệnh. Nhưng để có khả năng đó, các mô hình AI cần được huấn luyện trên khối lượng dữ liệu khổng lồ.
Trong những dữ liệu ấy có thể bao gồm sách, báo, tranh ảnh, video, mã nguồn phần mềm và nhiều tác phẩm đang được bảo hộ quyền tác giả. Điều này đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa khai thác dữ liệu để phát triển công nghệ và sử dụng trái phép tài sản trí tuệ.
Tiến sĩ Hoàng Minh Hiếu, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, chỉ ra ba nhóm vấn đề pháp lý lớn trong mối quan hệ giữa AI và sở hữu trí tuệ: Dữ liệu đầu vào để huấn luyện, tư cách chủ thể đối với sản phẩm đầu ra và trách nhiệm khi đầu ra xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Đáng chú ý, Việt Nam đang hình thành cách tiếp cận theo hướng cho phép khai thác văn bản và dữ liệu trong những điều kiện nhất định phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và huấn luyện AI; đồng thời đặt ra yêu cầu tôn trọng quyền bảo lưu và nghĩa vụ trả tiền bản quyền khi kết quả huấn luyện được đưa vào khai thác thương mại.
Nếu không biết dữ liệu nào đã được sử dụng để huấn luyện, chủ sở hữu rất khó chứng minh tác phẩm của mình đã bị khai thác. Khi AI tạo ra một sản phẩm tương tự hoặc có dấu hiệu xâm phạm tác phẩm đã được bảo hộ, việc truy ngược nguồn dữ liệu càng trở nên phức tạp bởi đặc tính “hộp đen” của các mô hình học sâu.
Theo Tiến sĩ Hoàng Minh Hiếu, bản thân hệ thống AI không có tư cách chủ thể để chịu trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm của nhà phát triển, bên triển khai và người sử dụng trong những trường hợp khác nhau.
Minh bạch dữ liệu đầu vào cũng là điều kiện quan trọng để có thể chứng minh hành vi xâm phạm ở đầu ra. Một hệ sinh thái sáng tạo mà người sáng tạo không thể biết tài sản của mình được sử dụng ở đâu, bởi ai và tạo ra bao nhiêu giá trị sẽ khó tạo được động lực phát triển dài hạn.
Ngược lại, nếu có cơ chế minh bạch, dữ liệu và tài sản trí tuệ có thể trở thành đầu vào hợp pháp cho đổi mới sáng tạo, đồng thời chủ thể quyền được hưởng phần giá trị tương xứng.
Kiến tạo hạ tầng cho nền kinh tế sáng tạo
Từ câu chuyện bản quyền có thể thấy, Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu lớn hơn việc sửa đổi một vài quy định hay xử lý một số vụ việc cụ thể. Đó là xây dựng một hạ tầng sở hữu trí tuệ phù hợp với nền kinh tế số.
Hạ tầng ấy cần bắt đầu từ việc định danh tài sản và chủ thể quyền; hình thành cơ sở dữ liệu có khả năng kết nối; chuẩn hóa chứng cứ điện tử; xây dựng cơ chế cấp phép và giao dịch quyền trên môi trường số; minh bạch hóa dòng tiền; đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp giữa chủ thể quyền, nền tảng, tổ chức đại diện và cơ quan quản lý.
Ở phía quản lý nhà nước, ông Quản Tuấn An, Trưởng Phòng Quản lý và hợp tác quốc tế, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và hạ tầng thông tin để hình thành thị trường cấp phép quyền tác giả, quyền liên quan minh bạch, thuận lợi và thích ứng với sự phát triển của môi trường số.
Trong đó, quản trị dữ liệu của các tổ chức quản lý tập thể quyền cần được xem là nghĩa vụ pháp lý cốt lõi; đồng thời cần có cơ sở pháp lý rõ ràng cho hợp tác quốc tế, đại diện đối ứng và giải quyết tranh chấp về tiền bản quyền.
Nhìn rộng hơn, hiệu quả của hệ thống bảo vệ quyền không nên chỉ được đo bằng số vụ vi phạm được phát hiện hay số nội dung bị gỡ bỏ. Điều quan trọng hơn là liệu chủ thể quyền có thể nhanh chóng chứng minh quyền của mình hay không; có truy được nguồn gốc hành vi hay không; có thu hồi được giá trị kinh tế bị thất thoát hay không; và có giảm được nguy cơ tái phạm hay không.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn mà tài sản vô hình ngày càng giữ vai trò lớn trong tăng trưởng. Với công nghiệp văn hóa, giá trị không nằm chủ yếu ở nguyên liệu hay nhà xưởng, mà nằm ở ý tưởng, nội dung, thương hiệu, thiết kế, công nghệ và sức sáng tạo của con người.
Bởi vậy, nếu đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa lên mức đóng góp 7% GDP vào năm 2030, đồng thời hướng tới tỷ trọng sản phẩm văn hóa số hơn 80% vào năm 2045, thì bảo vệ bản quyền phải được xem là một trong những điều kiện nền tảng.
Một nền kinh tế sáng tạo chỉ có thể phát triển khi người sáng tạo tin rằng thành quả của mình được bảo vệ; doanh nghiệp tin rằng tài sản trí tuệ có thể đầu tư và khai thác; còn thị trường tin rằng quyền sở hữu có thể được xác lập và thực thi.