Trống đồng Lô Lô, nhạc cụ quý cần được bảo tồn

Người Lô Lô coi trống đồng là vật thiêng, họ quan niệm: Tiếng trống đánh lên như một tín hiệu giữa cõi sống và cõi chết, giữa cuộc sống đời thường và thế giới siêu nhiên. Trước đây, mỗi dòng họ người Lô Lô thường có một bộ trống đồng do người trưởng họ giữ và bảo quản bằng cách chôn xuống đất, khi nào cần dùng thì làm lễ xin thần linh để đào lên.

Một bộ trống đồng gồm hai chiếc. Trống to (trống cái) tiếng Lô Lô gọi là Dảnh Mo. Trống bé (trống đực) tiếng Lô Lô gọi là Dảnh Pố. Trước đây, mỗi dòng họ của người Lô Lô đều có một cặp trống đồng, trải dài theo thời gian và nhiều nguyên nhân khác nhau, ngày nay cả thôn Lô Lô Chải chỉ còn lại một cặp trống đồng do nghệ nhân Vàng Dỉ Thuấn cất giữ. Tuy nhiên, do thời gian quá lâu và việc bảo quản không tốt, trống được sử dụng nhiều cho nên hiện trạng của hai chiếc trống đồng không còn tốt.

Trống đực được cấu tạo tang nở, thân eo, chân choãi. Trống có bốn quai bố trí thành hai cặp đối xứng nhau qua trục thân. Chính giữa mặt trống là hoa văn hình ngôi sao 12 cánh. Những họa tiết hoa văn trang trí trên trống đồng khá phong phú và đa dạng với nhiều họa tiết hoa văn khác nhau như: hoa văn hình mặt trời, hoa văn hình người hóa trang cách điệu, hoa văn sóng nước, hoa văn hình chim, hoa văn hình học... Ðặc biệt là hoa văn hình chim bay trên mặt trống gắn liền với sự tích và câu chuyện kể về tình yêu của một chàng trai thợ săn cùng cô gái dệt vải mà những người già vẫn kể cho con cháu nghe mỗi tối bên bếp lửa hồng.

Trống đồng thường được dùng trong tang ma, trong lễ cúng thổ thần, lễ cúng sức khỏe và lễ tế trời đất... Khi đánh, chiếc trống đực bao giờ cũng được treo bên phải, trống cái treo bên trái. Hai đầu dây được buộc vào từng quai của hai chiếc, treo lên xà nhà, hai trống được buộc quay mặt vào nhau với khoảng cánh giữa hai trống là 30 cm. Người đánh trống dùng một dùi bằng tre dài khoảng 15 cm có đường kính 1cm và một thanh tre dẹt dài 20 cm. Khi đánh tay phải cầm dùi to lia vào 2 mặt trống đực và cái, còn thanh tre dẹt bật ngang vào tang trống đực vì vậy khi nghe có 3 âm cùng phát ra một lúc. Theo các nghệ nhân thì dùi trống xưa bằng củ dong rừng, củ nâu, hay quả bưởi non để héo. Trống đồng trong tâm thức của người Lô Lô không phải là nhạc khí bình thường mà nó gắn với những nghi lễ tín ngưỡng linh thiêng, nên khi đánh trống người ta phải làm lễ cúng trống.  Khi trống được treo lên, thầy cúng thắp ba nén hương, cắm cạnh hai chiếc trống sau đó rót rượu tưới lên tang trống và mặt trống, rồi trống mới được đánh. Theo các nhà dân tộc học thì quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở và tín ngưỡng phồn thực của người Lô Lô được thể hiện một cách rõ nét trong hành động hòa tấu hai chiếc trống đực và cái cùng một lúc. Khi biểu diễn hai chiếc trồng đồng bao giờ cũng tạo ra ba tiết tấu cùng một lúc: hai tiết tấu được tạo ra bởi hai trống đực và cái do dùi tay phải đánh, một tiết tấu khác được tạo nên bởi thanh tre cầm ở tay trái gõ vào tang trống.

Âm thanh của trống đồng, trong quan niệm của  người Lô Lô, có ý nghĩa đặc biệt: Tiếng trống ngân nga đưa linh hồn người chết đến với thế giới tổ tiên, tiếng trống đồng nối cõi sống và cõi chết.

Trong đám tang của người Lô Lô thì bộ ba thầy cúng, tiếng trống đồng và những người múa không bao giờ tách rời nhau. Khi thầy cúng đọc những bài gọi hồn, đưa hồn hay tiễn hồn thì tiếng trống đồng cũng trầm bổng dồn dập, hay nhịp nhàng theo những lời khấn cúng của thầy.

Các điệu múa trong các đám tang rất linh thiêng, song độc đáo hơn cả là điệu múa Người rừng tiếng Lô Lô gọi là Gà lu. Số lượng người tham gia điệu múa Gà lu này có khoảng từ 6 đến 8 người. Những người này lên rừng hóa trang thành người rừng, họ khoác lên mình bộ trang phục bằng lá cây và khi tham gia múa họ phải thực hiện những kiêng kỵ nhất định. Ðây là điệu múa truyền thống để đưa linh hồn người quá cố về với thế giới tổ tiên.

Ðối với người Lô Lô ở Lũng Cú, Hà Giang thì trống đồng là biểu tượng của vũ trụ, biểu tượng con người được thần linh hóa cả về hình dáng lẫn tiếng nói. Âm thanh của trống đồng có vai trò giữ nhịp cho các điệu múa dân gian, đưa hồn người chết về với tổ tiên. Bên cạnh đó trống đồng còn là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực và sự giàu có của mỗi tộc họ. Trong các bài dân ca của người Lô Lô, trống đồng được nhắc đến nhiều như một biểu tượng cao của văn hóa.

Dân tộc Lô Lô còn có nhiều loại nhạc cụ độc đáo khác như trước đây họ có kèn sử dụng trong đám cưới, đám tang, có các loại sáo để nam nữ tỏ tình với nhau khi đi trên đường, hay khi đi làm nương, làm rẫy... Có thể nói sinh hoạt âm nhạc của người Lô Lô rất đa dạng, nó được trình diễn trong nhiều không gian khác nhau. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, văn hóa nghệ thuật nói chung, âm nhạc của người Lô Lô nói riêng đang có nguy cơ mai một, đã mất đi một số loại nhạc cụ như kèn, sáo, nhị.... Hôm nay, nếu chúng ta đến bản Lô Lô Chải sẽ không còn được thấy, được  nghe âm thanh của những nhạc cụ đó nữa. Tất cả những nhạc cụ đó chỉ còn lại trong ký ức của những người nghệ nhân và điều này đã ảnh hưởng rất nhiều trong việc đánh giá, tìm hiểu và sưu tầm vốn âm nhạc dân gian của người Lô Lô ở Lũng Cú hôm nay.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.