“Tôi muốn tiếp tục đến Điện Biên Phủ chừng nào còn có thể”

Họ đã có tới hàng chục năm chia sẻ niềm đam mê chung, và cũng từng sánh bước với nhau trên rất nhiều hành trình khám phá quanh lòng chảo Điện Biên Phủ. Song, đây là lần đầu, nhà nghiên cứu người Australia - ông Tony Atkinson - trả lời các câu hỏi phỏng vấn từ chính người bạn vong niên Võ Quốc Tuấn (nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam không chuyên), trên Nhân Dân cuối tuần.
Ông Tony Atkinson và tác giả đã có nhiều năm chia sẻ niềm đam mê chung về lịch sử.
Ông Tony Atkinson và tác giả đã có nhiều năm chia sẻ niềm đam mê chung về lịch sử.

- Xin chào ông Tony Atkinson! Thật vui khi gặp lại ông tại Việt Nam, trong chuyến đi thường niên của chúng ta. Nhưng vì sao nhỉ? Vì sao ông quan tâm đến Việt Nam và Điện Biên Phủ?

- Có hai trải nghiệm truyền cảm hứng cho tôi. Một là khi xem bộ phim Trận chiến Algiers, kể về cuộc chiến đấu giữa các chiến sĩ du kích của Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria (FLN) và lực lượng nhảy dù Pháp. Điều thứ hai là cuốn A Bright Shining Lie của nhà nghiên cứu Neil Sheehan, về chiến tranh Việt Nam. Từ đó, tôi khám phá thêm hai cuốn sách quan trọng của nhà sử học người Pháp Bernard Fall: Hell in a Very Small Place and Street Without Joy. Và rồi, tôi bị hút vào Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, như cách gọi của người phương Tây.

- Vì sao ông đến Việt Nam nhiều lần như vậy? Tôi rất muốn biết cảm xúc của ông trong lần trở lại này?

- Tôi rất thích trở lại Việt Nam, để gặp gỡ những người bạn sống ở đây, cũng như bạn bè từ khắp nơi. Chúng ta đều có chung mối quan tâm đến lịch sử. Năm nay, dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, đối với tôi đặc biệt quan trọng. Tôi háo hức được đến với chiến trường xưa. Từ cửa sổ máy bay, tôi sẽ mỉm cười khi nhìn thấy những địa danh đã trở nên quen thuộc, như chính khu phố nơi tôi sống.

Tôi rất vui khi thấy chính quyền địa phương đã bảo tồn tại chỗ nhiều di tích lịch sử và vũ khí, để cùng với bảo tàng cung cấp cho du khách nhiều thông tin về trận chiến. Và với tư cách là một nhà sử học nghiệp dư, tôi cũng rất vui khi thấy rất nhiều khách du lịch, đặc biệt là thanh thiếu niên hứng thú với lịch sử.

Điều quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu về lịch sử của dân tộc mình, ngay cả những phần khiến chúng ta cảm thấy khó chịu. Rồi giữa hối hả và nhộn nhịp, nghĩa trang liệt sĩ sẽ là nơi để suy ngẫm lặng lẽ, về sự hy sinh của không chỉ các chiến sĩ mà còn cả gia đình họ. Các di tích, địa danh như tượng đài hay Sở chỉ huy chiến dịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Mường Phăng cũng mang đến cho du khách cơ hội kéo dài và mở rộng các chuyến tham quan, để hiểu rõ hơn về khoảng cách và những thách thức mà lực lượng Việt Minh phải vượt qua. Tôi muốn thấy chính quyền tiếp tục làm cho những địa điểm như vậy dễ dàng tiếp cận hơn đối với du khách, chẳng hạn như trụ sở tạm thời của Tướng Giáp tại Huổi He.

Đương nhiên, tôi cũng cảm thấy hơi buồn khi thấy một số địa điểm quan trọng biến mất. Thí dụ, một số cứ điểm của Pháp ở phía tây đường băng đã bị dỡ bỏ, để mở rộng sân bay. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn dễ hiểu, nếu tôi muốn có thêm nhiều người được chia sẻ những trải nghiệm giống như chúng ta đã trải qua trong nhiều năm. Phát triển đô thị luôn đòi hỏi sự thỏa hiệp, và việc cải tạo sân bay là hoàn toàn cần thiết để tiếp tục phát triển du lịch ở Điện Biên Phủ.

Tôi muốn tiếp tục đến Điện Biên Phủ cho tới chừng nào còn có thể, để tìm hiểu thêm, để xác định những địa điểm quan trọng hơn, và để hiểu sâu hơn về những biến cố lớn nhỏ đã xảy ra, quanh sự kiện lịch sử quan trọng này.

- Kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông khi đến Việt Nam và Điện Biên Phủ là gì?

- Thật khó để chọn ra kỷ niệm đáng nhớ nhất, trong rất nhiều kỷ niệm đẹp. Tuy nhiên, tôi thật sự mãn nguyện, khi cùng các bạn bè xác định và tiếp cận được những địa điểm có ý nghĩa lịch sử liên quan đến trận Điện Biên Phủ, thí dụ như đến được địa điểm mà Tướng Giáp đã phải đưa ra “quyết định khó khăn nhất” vào tháng 1/1954, hay khi chúng ta cuốc bộ lên Tà Lèng để tìm các hầm pháo của Việt Minh, và leo lên Đồi 781 (Đồi Xanh), nơi diễn ra một cuộc giao tranh quan trọng trước khi chiến dịch mở màn.

- Vâng, tôi nhớ chúng ta đã cùng nhau trèo lên đỉnh núi Pú Hồng Mèo phía đông của lòng chảo Điện Biên Phủ để đi tìm những hầm pháo 105 mm, không phải một mà là ba lần. Với tôi, đó là những chuyến đi khó khăn nhưng đáng nhớ.

- Những ký ức kỳ diệu đó sẽ còn theo tôi mãi mãi.

- Vậy động lực nào thôi thúc ông tiếp tục tìm hiểu về Điện Biên Phủ?

- Luôn có điều gì đó mới mẻ để học hỏi, từ những chi tiết nhỏ nhặt đến những câu chuyện trọng đại, từ cả hai phía. Thường có những dữ kiện trái ngược nhau, và tôi thấy thật thú vị khi nghiên cứu để tìm kiếm sự thật.

Tôi thích xác định các địa điểm thực tế của các hoạt động quân sự trên mặt đất. Đơn cử, tôi đã tìm ra vị trí chính xác của bãi thả quân được lính dù Pháp sử dụng khi đổ bộ vào thành phố Lạng Sơn vào tháng 7/1953. Tôi cũng thích chia sẻ nghiên cứu của mình với đồng nghiệp và bạn bè ở Australia. Tôi là thành viên của Hiệp hội Lịch sử Quân sự Tây Australia, và hằng năm tôi đều có bài thuyết trình về một khía cạnh lịch sử của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm ngoái, tôi đã giới thiệu câu chuyện một người lính Pháp trốn thoát sau khi Điện Biên Phủ thất thủ, và năm nay tôi sẽ nói về trận đèo Mang Yang, trong đó một đơn vị cơ động của Pháp bị thiệt hại nặng nề - một trong những trận đánh cuối cùng của cuộc chiến, vào tháng 6/1954.

- Là người sưu tầm, nghiên cứu nhiều tài liệu từ những năm 1954 cũng như sau này của người Pháp nói riêng và phương Tây nói chung, ông thấy người phương Tây nghĩ gì về Điện Biên Phủ?

- Hầu hết người phương Tây mà tôi gặp đều biết về Điện Biên Phủ, và có ý tưởng chung về trận chiến cũng như tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, tôi cảm thấy điều quan trọng là phải làm rõ thêm cho họ về bối cảnh tổng thể - cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Người phương Tây cũng cần hiểu rằng người Mỹ đã không học được những bài học cần thiết, từ cuộc chiến tranh của người Pháp.

- Quan điểm của ông về ý nghĩa của Điện Biên Phủ với Hội nghị Geneva cũng như cả hệ thống thuộc địa cũ?

- Thất bại ở Điện Biên Phủ đã tạo thêm áp lực, để người Pháp theo đuổi một giải pháp thương lượng tại Hội nghị Geneva năm 1954. Chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ cũng đập tan huyền thoại về ưu thế quân sự của Pháp ở châu Á, đồng thời củng cố thực tế: Quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển đổi hoàn toàn từ hình thái du kích sang chuyên nghiệp, với khả năng cung cấp hậu cần cho năm sư đoàn chính quy, cách xa hàng trăm km. Điện Biên Phủ cũng đánh dấu sự kết thúc của ách thống trị thực dân Pháp ở Đông Dương và góp phần truyền cảm hứng cho các phong trào chống thực dân ở các nơi khác trên thế giới.

- Tướng Marcel Bigeard (cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 tại Điện Biên Phủ, sau này là Bộ trưởng Quốc phòng Pháp) đã nói: “Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các đại đoàn. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới… và họ đã đánh bại chúng ta”. Theo ông, điều gì đã đưa người Việt Nam vượt qua những cuộc chiến tranh từ những điều kiện tưởng như không thể như vậy?

- Có nhiều yếu tố, bao gồm: Lịch sử nghìn năm chống ngoại xâm; ý thức mạnh mẽ về niềm tự hào dân tộc; kỷ luật và sự kiên nhẫn để tránh những cuộc giao tranh không có khả năng thành công cao; sẵn sàng chấp nhận chi phí và tổn thất với tầm nhìn dài hạn; khả năng huy động toàn dân để thu thập thông tin tình báo, vật tư cũng như nhân lực. Bên cạnh đó, việc được trang bị vũ khí hiện đại cũng như quá trình điều chỉnh chiến lược đã cho phép họ đối đầu với quân chiếm đóng theo những điều kiện bình đẳng hơn.

- Tôi nghĩ rằng, điều quan trọng nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam) đã tập hợp được nhân dân dưới ngọn cờ chính nghĩa.

- Vâng, theo hiểu biết của tôi, nhân dân Việt Nam đã tập hợp quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ngọn cờ đấu tranh chính nghĩa vì độc lập, chủ quyền dân tộc.

Ngày 7/5/1954, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị tiêu diệt. Lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Ảnh: Triệu Đại - TTXVN

Ngày 7/5/1954, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị tiêu diệt. Lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Ảnh: Triệu Đại - TTXVN

- Ông nghĩ gì khi hình dung hàng chục nghìn bộ đội, hàng trăm nghìn dân công Việt Nam cùng lên đường, hướng về Điện Biên Phủ trong năm tháng đó?

- Họ còn vừa đi vừa hát nữa. Đúng như vậy, dù sẽ mệt hơn nhưng thật sự họ đã vừa đi vừa hát. Lời ca gắn kết họ thành một sức mạnh thống nhất, nâng cao sức chịu đựng về thể chất và tinh thần, đồng thời khơi dậy niềm tự hào.

Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm không ngừng là phần tất yếu trong bản sắc, mãi mãi định hình nỗ lực bảo vệ nền độc lập rất khó khăn mới giành được, của dân tộc Việt Nam.

- Đúng vậy, dòng máu “đánh giặc giữ nước” luôn chảy trong huyết quản người Việt. Đôi khi có người nói, chúng tôi - người Việt Nam - đã “chống lại các nền văn minh lớn”. Còn theo tôi, đó là sự lựa chọn. Ông nghĩ thế nào về sự lựa chọn giữa sinh mạng và danh dự?

- Đó là một câu hỏi rất khó trả lời. Một mặt, sự sống rất quý giá và động lực sinh tồn của con người rất mạnh mẽ. Mặt khác, danh dự, sự chính trực và tuân thủ đạo đức của một người có thể được coi là mang lại mục đích sống và phẩm giá cho người ấy. Có những lúc, danh dự trở nên quan trọng đến mức hy sinh là lựa chọn đạo đức duy nhất. Người ta nên cố gắng đi theo con đường danh dự, đồng thời tôn trọng sự quý giá của cuộc sống.

- Ông có suy nghĩ gì khi tiếp xúc với thế hệ trẻ Việt Nam? Trong hòa bình, chúng tôi đã đi qua một chặng đường với nhiều thành công, nhưng cũng sẽ còn rất nhiều thách thức…

- Việt Nam có vị thế tốt để ngày càng có ảnh hưởng trên trường quốc tế. Đất nước của các bạn đã cân bằng được mối quan hệ giữa các cường quốc, điều này giúp giảm những tổn thương và cho phép Việt Nam có được các mối quan hệ hợp tác từ vị trí trung lập tương đối. Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo trong ASEAN, trong khi các cam kết tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực được kỳ vọng sẽ đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào giữa thế kỷ này. Tôi hy vọng rằng thế hệ trẻ Việt Nam sẽ áp dụng những cách tiếp cận hiệu quả truyền thống, khi họ được trao những vai trò lãnh đạo trong xã hội.

- Xin cảm ơn, người bạn quý của tôi!,

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.