Tiếp cận theo hướng toàn diện đối với người bệnh đái tháo đường

Ðái tháo đường là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới, đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một vấn đề sức khỏe chung của cộng đồng cần đặc biệt quan tâm. Các cơ quan quản lý liên quan căn bệnh này đã đưa ra hướng tiếp cận toàn diện cho những người không may mắc căn bệnh này.
Khám mắt sàng lọc bệnh đái tháo đường cho người dân ở huyện Ba Vì, Hà Nội tại “Ngày hội Y tế cơ sở phòng chống bệnh không lây nhiễm - đái tháo đường, tăng huyết áp, tháng 11/2023. (Ảnh: TRUNG TUYẾN)
Khám mắt sàng lọc bệnh đái tháo đường cho người dân ở huyện Ba Vì, Hà Nội tại “Ngày hội Y tế cơ sở phòng chống bệnh không lây nhiễm - đái tháo đường, tăng huyết áp, tháng 11/2023. (Ảnh: TRUNG TUYẾN)

Theo Hiệp hội phòng chống đái tháo đường (ÐTÐ) thế giới (IDF) ước tính hiện nay có khoảng hơn 537 triệu người trưởng thành độ tuổi 20-79 mắc bệnh ÐTÐ tương ứng 10,5% dân số, trong đó có hơn 6,7 triệu người chết do các nguyên nhân liên quan đến bệnh ÐTÐ; có 240 triệu người mắc bệnh mà không được chẩn đoán.

Cứ 24 giờ, trên thế giới lại có 3.600 trường hợp ÐTÐ mới được chẩn đoán, 580 người chết, 225 người bị cắt đoạn chi, 120 người bị suy thận giai đoạn cuối và 55 người bị mù do ÐTÐ.

Theo Hiệp hội phòng chống đái tháo đường (ÐTÐ) thế giới (IDF) ước tính hiện nay có khoảng hơn 537 triệu người trưởng thành độ tuổi 20-79 mắc bệnh ÐTÐ tương ứng 10,5% dân số, trong đó có hơn 6,7 triệu người chết do các nguyên nhân liên quan đến bệnh ÐTÐ; có 240 triệu người mắc bệnh mà không được chẩn đoán.

Nếu tốc độ gia tăng tiếp tục duy trì thì đến năm 2030, số người mắc bệnh sẽ tăng lên 643 triệu và 783 triệu vào năm 2045. Hơn 70% số người mắc ÐTÐ đang sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình do sự tăng lên nhanh chóng của việc tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, lối sống ít vận động. Tỷ lệ người béo phì ngày càng tăng trong khi lứa tuổi mắc bệnh ÐTÐ ngày càng trẻ hóa đang thật sự báo động.

Tại Việt Nam, những số liệu điều tra trên phạm vi toàn quốc trong thời gian qua cho thấy, tỷ lệ bệnh ÐTÐ có sự gia tăng theo xu hướng chung của thế giới.

Lấy máu để xét nghiệm đường huyết tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.

Lấy máu để xét nghiệm đường huyết tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.

Ðiều tra của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2002 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ÐTÐ trên toàn quốc là 2,7% số dân. Sau 10 năm (năm 2012), tỷ lệ này đã tăng gấp hai lần, lên 5,4%. Kết quả khảo sát năm 2020 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 7,3% và tỷ lệ tiền ÐTÐ là 17,8%.

Ngoài ra, tỷ lệ người mắc ÐTÐ chưa được chẩn đoán tại Việt Nam hiện tại là hơn 60% và có hơn một nửa số người trưởng thành chưa bao giờ được làm xét nghiệm đường huyết. Ước tính cả nước hiện có hơn 7 triệu người bị ÐTÐ, nhưng có tới 55% số người mắc bệnh đã xuất hiện biến chứng về tim mạch, mắt, thần kinh, thận.

ÐTÐ là bệnh lý mạn tính, không lây nhiễm. Khi bệnh không kiểm soát được và theo thời gian sẽ gây tổn thương nghiêm trọng nhiều bộ phận của cơ thể, đặc biệt là dây thần kinh và mạch máu.

Tuy nhiên, có thể giảm tác động của căn bệnh này bằng cách thực hiện các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán sớm và chăm sóc thích hợp. Nếu không được kiểm soát kịp thời, bệnh có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, tăng nguy cơ tiến triển các bệnh đồng mắc liên quan như: nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận, mất thị lực, cắt cụt chi… và tăng tỷ lệ tử vong của người bệnh.

Bằng các nghiên cứu lâm sàng và can thiệp cộng đồng đã chứng minh bệnh ÐTÐ có thể phòng ngừa được bằng cách thực hiện chế độ dinh dưỡng, duy trì cân nặng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực.

Theo tổng kết của IDF, nếu phát hiện sớm, kiểm soát đường huyết và huyết áp tốt có thể giảm được từ hơn 30 đến gần 80% các biến chứng của bệnh ÐTÐ.

Chi phí điều trị bệnh cũng như các biến chứng của ÐTÐ rất tốn kém nhưng chỉ làm chậm sự tiến triển bất lợi mà không thể chữa khỏi bệnh hoàn toàn. Không chỉ thế, chất lượng cuộc sống của người mắc ÐTÐ cũng bị ảnh hưởng rất nhiều vì phải tuân thủ chế độ điều trị, dinh dưỡng… và các vấn đề khác liên quan. Khi đã chẩn đoán xác định mắc ÐTÐ, người bệnh cần được quản lý, điều trị trong toàn bộ thời gian sống còn lại.

Theo tổng kết của IDF, nếu phát hiện sớm, kiểm soát đường huyết và huyết áp tốt có thể giảm được từ hơn 30 đến gần 80% các biến chứng của bệnh ÐTÐ.

Một số nghiên cứu cho thấy chỉ riêng việc lười vận động đã gây ra 7% gánh nặng của bệnh ÐTÐ ở khu vực châu Âu; thừa cân và béo phì chiếm khoảng 65-80% các trường hợp mới mắc bệnh ÐTÐ. Chế độ ăn nhiều rau, trái cây, cá, thịt gia cầm và ngũ cốc làm giảm nguy cơ ÐTÐ.

Trong khi đó, số lượng lẫn chất lượng của chất béo đều ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và sự nhạy cảm insulin. Thức ăn có nhiều chất béo gây rối loạn chuyển hóa glucose bằng nhiều cơ chế khác nhau như giảm khả năng gắn insulin vào thụ thể, gây rối loạn vận chuyển glucose...

Các yếu tố nguy cơ khác làm gia tăng ÐTÐ là: Lạm dụng rượu, bia; rối loạn lipid máu; tăng huyết áp (khoảng hai phần ba số người bệnh ÐTÐ có tăng huyết áp; cả hai bệnh ÐTÐ và tăng huyết áp đều làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim); hút thuốc lá; stress.

Theo Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn, bệnh ÐTÐ hoàn toàn có thể dự phòng được nếu chúng ta chú ý và quan tâm hơn nữa đến việc tập thể dục thường xuyên, ăn uống lành mạnh (giúp duy trì cân nặng, thể lực, giảm huyết áp và nguy cơ mắc các bệnh mạn tính); theo dõi, kiểm soát lượng đường máu (việc này rất cần thiết, đặc biệt với những người có yếu tố nguy cơ và đang được điều trị); kiểm soát các yếu tố nguy cơ (tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tình trạng thừa cân béo phì); kiểm tra sức khỏe định kỳ, điều trị bệnh ÐTÐ ngay khi được chẩn đoán và tuân thủ phác đồ theo hướng dẫn.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ y tế tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi chủ động dự phòng, sàng lọc để đẩy lùi bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung. (Ảnh: ĐỖ THỦY)

Phát hiện sớm để điều trị hiệu quả

Ung thư vú, ung thư cổ tử cung là hai bệnh tác động tiêu cực đối với sức khỏe phụ nữ, chiếm tỷ lệ mắc mới và tử vong cao trong nhóm ung thư ở nữ giới. Tuy nhiên, nếu được dự phòng và phát hiện sớm bằng các biện pháp sàng lọc hiệu quả, đều có thể giảm tỷ lệ tử vong vì căn bệnh nêu trên.

Tổn thương do giun rồng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Thêm một ca giun rồng được phát hiện tại Việt Nam

Bệnh viện Đặng Văn Ngữ vừa tiếp nhận bệnh nhân nam 49 tuổi ở Lào Cai, có 2 tổn thương trên cẳng tay trái. Trước khi đến viện, người bệnh đã được người nhà kéo ra hai đoạn giun màu trắng dài khoảng 10-20cm. Đây là trường hợp mắc giun rồng thứ 44 được ghi nhận tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Bệnh nhân bình phục sức khỏe và được ra viện sáng 19/8.

Một tháng nguy kịch do Covid-19, bệnh nhân được cứu sống nhờ can thiệp ECMO

Mắc Covid-19 biến chứng ARDS, sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, nam bệnh nhân 43 tuổi từng ở trong tình trạng nguy kịch, phải thở máy, lọc máu và sử dụng ECMO. Sau gần một tháng hồi sức tích cực với nhiều kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), bệnh nhân đã hồi phục, được cai máy thở và xuất viện sáng 19/8.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh thiết kế bởi AI)

Bữa ăn của người Việt đang “dư năng lượng, thiếu vi chất”

Dù lượng muối tiêu thụ trung bình của người Việt đã giảm từ 9,42g/ngày năm 2015 xuống 8,07g/ngày năm 2021, mức này vẫn cao khoảng 1,6 lần khuyến nghị của WHO. Trong khi đó, tiêu thụ đồ uống có đường tăng tới 350% trong 15 năm, cho thấy những thách thức lớn trong thay đổi thói quen ăn uống và phòng ngừa bệnh không lây nhiễm.

Cháu bé đang dần bình phục sau ca phẫu thuật kéo dài hơn 4 giờ. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Báo động đỏ cứu bé trai 6 tuổi bị cọc sắt xuyên từ bụng xuống tầng sinh môn

Bé trai 6 tuổi ở Hà Nội bị ngã từ độ cao khoảng 10m, cọc hàng rào xuyên thấu vùng bụng-tầng sinh môn, nhập viện trong tình trạng sốc mất máu, mạch và huyết áp không đo được. Các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức lập tức kích hoạt báo động đỏ, phối hợp nhiều chuyên khoa phẫu thuật suốt 4 giờ để giành lại sự sống cho bệnh nhi.

Hội Hô hấp Thành phố Hồ Chí Minh ký biên bản ghi nhớ với Pfizer Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Lê)

Hợp tác tăng cường năng lực hệ thống y tế và thúc đẩy dự phòng vì sức khỏe cộng đồng

Hội Hô hấp Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định và Công ty TNHH Pfizer Việt Nam vừa ký kết Biên bản ghi nhớ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên y tế, tăng cường chất lượng chẩn đoán, dự phòng và điều trị, đồng thời thúc đẩy các hoạt động giáo dục sức khỏe cộng đồng.

Bác sĩ thực hiện ca ghép tạng. (Ảnh minh họa: BVCC)

Khoảng trống cần vượt qua

Phía sau mỗi ca ghép thành công không chỉ là trình độ phẫu thuật, sự phát triển của các chuyên ngành: hồi sức, miễn dịch, xét nghiệm hay công tác điều phối, mà trước những thành tựu chuyên môn ấy có một điều mà khoa học không thể tạo ra, đó là quyết định hiến tặng của một con người và sự đồng thuận đầy nhân văn của một gia đình.

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Đình Ngân, Phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 103 phát biểu tại tọa đàm

Cận thị ngày càng trẻ hóa: Chuyên gia khuyến nghị chủ động kiểm soát thị lực

Cận thị đang có xu hướng xuất hiện sớm hơn và tiến triển nhanh hơn ở người trẻ. Trong bối cảnh thời gian sử dụng thiết bị điện tử ngày càng gia tăng, các chuyên gia nhãn khoa khuyến cáo, cần chủ động kiểm soát sự tiến triển cận thị, khám mắt định kỳ và xây dựng thói quen sinh hoạt khoa học để bảo vệ thị lực lâu dài.

Quang cảnh lễ kỷ niệm. (Ảnh: KHANG ANH)

Phẫu thuật robot bước vào giai đoạn phát triển chuyên sâu

Ngày 15/8, Bệnh viện Bình Dân tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm phát triển phẫu thuật robot tại Việt Nam và Hội nghị khoa học “Phẫu thuật robot trong ngoại lồng ngực, tổng quát và tiết niệu”. Sau một thập kỷ, trọng tâm của bệnh viện đã chuyển từ đưa kỹ thuật mới vào ứng dụng sang chuẩn hóa chuyên môn, đào tạo và mở rộng hợp tác.

Chương trình khám sức khỏe định kỳ cho người dân xã đảo Tam Hải kéo dài đến ngày 20/8.

Đà Nẵng: Khám sức khỏe miễn phí cho hơn 4.100 người dân xã đảo Tam Hải

Sáng 15/8, Bệnh viện Việt-Hàn Đà Nẵng bắt đầu tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho hơn 4.100 người dân xã đảo Tam Hải, thành phố Đà Nẵng. Qua đây, giúp người cao tuổi, người yếu thế và cư dân xã đảo được kiểm tra sức khỏe ngay tại nơi sinh sống, thay vì phải di chuyển xa để tiếp cận dịch vụ y tế.