Thúc đẩy năng suất cần cú huých từ chuyển đổi số

Chuyển đổi số hiện đang là xu hướng tất yếu, vấn đề sống còn đối với các quốc gia, nhất là sau đại dịch Covid-19. Và Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu hướng đó, thậm chí đã có doanh nghiệp phần mềm của nước ta đạt năng suất lao động tiệm cận với mức trung bình trên thế giới nhờ vào internet, AI và Big Data.
Dây chuyền sản xuất bảng mạch điện tử tại Công ty TNHH 4P (tỉnh Hưng Yên). (Ảnh MINH HÀ)
Dây chuyền sản xuất bảng mạch điện tử tại Công ty TNHH 4P (tỉnh Hưng Yên). (Ảnh MINH HÀ)

Những thay đổi to lớn về năng suất lao động, trải nghiệm của người dùng và các mô hình kinh doanh mới đang được hình thành cho thấy vai trò và tác động to lớn của chuyển đổi số trong mọi mặt đời sống xã hội.

Kiếm tiền từ nguồn lực dữ liệu

Chia sẻ về bài học thành công trong chuyển đổi số tại doanh nghiệp, Chủ tịch FPT Telecom Hoàng Nam Tiến cho biết, hiện nay, năng suất lao động của doanh nghiệp này cao gấp khoảng hơn từ bốn đến năm lần năng suất lao động trung bình của cả nước. Trong đó, riêng đội ngũ phần mềm chuyên làm về AI có năng suất lao động cao gấp chín lần và đã tiệm cận năng suất lao động trung bình cả thế giới, tức đạt khoảng từ 38.000 USD đến 42.000 USD/người. Có được thành công này là nhờ vào internet, AI và Big Data.

Thông qua kết nối dữ liệu, nhân viên FPT hoàn toàn có thể làm việc như những kỹ sư ở Tokyo, Singapore và các nước khác với sự trợ giúp của khoa học. “Internet đã trở thành một phần rất cơ bản của cuộc sống. Trong thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát, các công ty viễn thông nhận ra sứ mệnh của mình không chỉ là kinh doanh mà là kết nối con người, đây chính là cơ hội rất lớn. Cùng với tiền bạc, con người thì dữ liệu đã trở thành nguồn lực chính để cạnh tranh và phát triển”, ông Hoàng Nam Tiến chia sẻ.

Trong thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát, các công ty viễn thông nhận ra sứ mệnh của mình không chỉ là kinh doanh mà là kết nối con người, đây chính là cơ hội rất lớn. Cùng với tiền bạc, con người thì dữ liệu đã trở thành nguồn lực chính để cạnh tranh và phát triển.

Chủ tịch FPT Telecom Hoàng Nam Tiến

Theo ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), không có giải pháp chung về chuyển đổi số cho mọi doanh nghiệp. Là doanh nghiệp quy mô lớn, có sự phân tán về địa bàn và khác biệt về công nghệ giữa các công ty thành viên, Vinatex thực hiện chuyển đổi số trước tiên ở các công ty ngành sợi vì đó là khu vực có nhiều tài sản nhất, có lợi thế cạnh tranh nhất và có điều kiện tốt hơn về trang thiết bị công nghệ. Đơn cử, năm 2020, Công ty cổ phần Sợi Phú Bài quyết định đầu tư nhà máy sợi hai tầng đầu tiên trong hệ thống các đơn vị ngành sợi của Vinatex với quy mô 30 nghìn cọc sợi, công nghệ mới nhất của Thụy Sĩ, tổng vốn đầu tư gần 600 tỷ đồng.

Đây là dây chuyền tự động, được số hóa và quản trị tập trung nhưng chỉ sử dụng 130 công nhân (trung bình 35 công nhân/10 nghìn cọc sợi), diện tích xây dựng 9.000m2. So quy mô của một nhà máy sợi tương tự, dự án giảm 84% số lao động, giảm khoảng 50% diện tích đất xây dựng, tiết kiệm chi phí lao động bằng 120% chi phí khấu hao tăng thêm và còn lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời trên mái để bắt kịp xu hướng xanh hóa ngành dệt may.

Tư duy và hành động mới

Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), chuyển đổi số sẽ trở thành cú huých thúc đẩy năng suất lao động của khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Điểm thuận lợi là châu Á đóng góp 60% số lượng bằng sáng chế của toàn thế giới và chiếm gần 60% tổng doanh thu bán lẻ trực tuyến nhờ chi tiêu cho thương mại điện tử gia tăng mạnh mẽ. Mức tăng trưởng vượt bậc cũng có được ở tỷ lệ đơn xin cấp bằng sáng chế cho các công nghệ thương mại điện tử và làm việc từ xa. Đáng lưu ý, doanh thu thương mại điện tử ở Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ tăng vượt trội so với phần lớn các quốc gia khác trên thế giới, lên đến 40%-50% trong năm 2020.

Tuy nhiên, điểm hạn chế là đổi mới sáng tạo lại không dẫn đến tăng năng suất ở châu Á. Điều này cho thấy, chất lượng đổi mới sáng tạo không phải lúc nào cũng cao một cách nhất quán và đòi hỏi phải có sự cải thiện về chất lượng các sáng chế để chuyển hóa thành năng suất cao hơn. Đồng thời, tốc độ truyền bá công nghệ từ doanh nghiệp đi đầu và các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chậm, không có được sự chuyển giao công nghệ, truyền bá tri thức mạnh mẽ khiến hoạt động đổi mới sáng tạo đang tập trung vào một nhóm các doanh nghiệp lớn, trong khi số đông gồm các doanh nghiệp nhỏ vẫn đang tụt hậu phía sau.

Để thúc đẩy chuyển đổi số tăng năng suất lao động, bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Worldbank tại Việt Nam cho rằng, cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào lĩnh vực giáo dục. Cùng với đó là tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp, nhất là đầu tư mạo hiểm; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo sân chơi bình đẳng, hiệu quả hơn với khu vực tư nhân, giảm bớt các rào cản hành chính đối với việc thành lập doanh nghiệp và tăng cường khả năng dự báo chính sách.

Cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào lĩnh vực giáo dục. Cùng với đó là tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp, nhất là đầu tư mạo hiểm; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo sân chơi bình đẳng, hiệu quả hơn với khu vực tư nhân, giảm bớt các rào cản hành chính đối với việc thành lập doanh nghiệp và tăng cường khả năng dự báo chính sách.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Worldbank tại Việt Nam

Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cần có tư duy và hành động mới để thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp, hướng đến chiều sâu. Cụ thể là đánh giá mức độ chuyển đổi số chi tiết theo các tiêu chí khoa học, rõ ràng, để từ đó có những thay đổi, chiến lược và kế hoạch phát triển phù hợp. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế quốc dân nhận định, chuyển đổi số trong khu vực sản xuất, kinh doanh sẽ chậm và khó khăn hơn so với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin và truyền thông...

Khi bắt đầu thực hiện chuyển đổi số, doanh nghiệp luôn trăn trở giữa lựa chọn phương án mua công nghệ mới hoàn toàn hay cải tạo công nghệ cũ, điều này phụ thuộc rất nhiều về nguồn tài chính và nhân lực của doanh nghiệp và của cả ngành kinh tế. Vì vậy, để chuyển đổi số thành công phải có tầm nhìn xa nhưng bước đi nhỏ.

Tầm nhìn xa là phải có chiến lược phát triển, có bộ chỉ số thể hiện mức độ trưởng thành số trong từng ngành và bước đi nhỏ là để nếu phải làm lại thì chi phí cũng không lớn. Quan trọng hơn cả là cần có thể chế đi trước mở đường, vì chuyển đổi số và kinh tế số không đơn thuần chỉ là bài toán công nghệ mà liên quan đến cái mới. Trong quá trình chuyển đổi số ở doanh nghiệp, thể chế có tính chất mở đường, công nghệ giữ vai trò quan trọng, con người là yếu tố quyết định.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại lễ ký kết. (Ảnh: FPT)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam chủ động tham gia chuỗi giá trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

FPT và Mila - Viện nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu thế giới vừa ký kết hợp tác nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng kỳ vọng hợp tác góp phần tạo giải pháp thiết thực, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và định hình quy chuẩn quản trị AI toàn cầu.

Đại diện Viện VPI và Beicip-Franlab Asia ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí. (Ảnh: VPI)

Tăng cường hợp tác nghiên cứu công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí

Ngày 13/8, tại Hà Nội, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) thuộc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Beicip Technology Solutions Sdn. Bhd. (Beicip-Franlab Asia) đã ký kết Biên bản ghi nhớ tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

PILA (Việt Nam) ký kết hợp tác chiến lược cùng TOTM Technologies (Singapore). (Ảnh: NGỌC ANH)

Thúc đẩy hạ tầng niềm tin số xuyên biên giới trong khu vực ASEAN

Trong tiến trình chuyển dịch sang môi trường số, việc xác thực danh tính, chứng từ và dữ liệu đã trở thành điều kiện tiên quyết nhằm thúc đẩy thương mại xuyên biên giới. Bên cạnh hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu, các giao dịch số đòi hỏi một cơ chế kiểm chứng độc lập, nhanh chóng và bảo đảm tính tin cậy giữa các bên.

Các đại diện hai bên Việt Nam-Nhật Bản ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác tại diễn đàn. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Đưa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào chiều sâu, kiến tạo các giá trị mới

Các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học và đại biểu tham dự diễn đàn đều bày tỏ tin tưởng, hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, từ kết nối sang hợp tác, từ hợp tác sang cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị mới.

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Quang cảnh Hội thảo tại Hà Nội.

Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện.