Mở ra phương thức sản xuất mới
Theo Phó Trưởng phòng Công nghệ số, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Vũ Ngọc Tuấn, chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng một vài công nghệ nhỏ lẻ vào canh tác, mà là một quá trình tái kiến tạo toàn diện hệ sinh thái sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu thụ trên môi trường số. Hiện nay, với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ chuỗi khối (Blockchain) đã mở ra một phương thức sản xuất hoàn toàn mới để hướng đến nền nông nghiệp chính xác và nông nghiệp thông minh.
Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, có khoảng 9,15% số hộ trồng trọt ứng dụng các công nghệ như: Kết nối vạn vật, robot và tự động hóa; 0,7% hộ nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ tuần hoàn, khép kín, công nghệ kết nối vạn vật, cảm biến…
Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng một vài công nghệ nhỏ lẻ vào canh tác, mà là một quá trình tái kiến tạo toàn diện hệ sinh thái sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu thụ trên môi trường số.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Sơn La nhiều hợp tác xã đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng giá trị sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Trong đó, Hợp tác xã Nông Xanh với hơn 40 thành viên và hộ liên kết, sản xuất gần 50ha sản xuất rau, củ, quả, sản lượng hằng năm đạt khoảng 500 tấn. Nhằm tiết kiệm chi phí, giảm công lao động, gia tăng giá trị canh tác, từ năm 2023 hợp tác xã ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, trong đó có việc sử dụng phần mềm ghi chép điện tử. Đến đầu năm 2025, hợp tác xã đã đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý sản xuất, quảng bá sản phẩm qua Facebook và các kênh trực tuyến.
Giám đốc Hợp tác xã Nông Xanh Lưu Tùng Định chia sẻ: “Việc ứng dụng công nghệ số giúp hợp tác xã quản lý, kiểm soát quy trình sản xuất thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian và mở rộng khả năng quảng bá sản phẩm. Thông qua các nhóm trao đổi trực tuyến, hợp tác xã còn chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật để các thành viên tiếp cận nhanh hơn với phương thức sản xuất mới. Nhờ đó, hiệu quả sản xuất của các hộ thành viên tăng khoảng 20 đến 30% so với sản xuất truyền thống”.
Phó Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Thanh Hóa Trịnh Văn Chất cho biết: “Hiện nay, địa phương đang đẩy mạnh chuyển đổi số vào sản xuất, trong đó tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, ứng dụng công nghệ quan trắc sâu bệnh, phát triển mã số vùng trồng và nâng cao năng lực số cho nông dân. Cùng với đó, tỉnh đã phối hợp các đơn vị nghiên cứu xây dựng bản đồ nông hóa thổ nhưỡng phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại 166 xã, phường. Hệ thống giúp người dân, doanh nghiệp tra cứu đặc điểm đất đai, đánh giá mức độ phù hợp của từng loại cây trồng để lựa chọn phương án sản xuất hiệu quả”.
Dữ liệu bản đồ được tích hợp lên hệ thống IOC của tỉnh, phục vụ công tác quản lý, điều hành và thu hút đầu tư vào nông nghiệp. Bên cạnh đó, tỉnh dự kiến đầu tư khoảng 30 tỷ đồng xây dựng 50 trạm quan trắc trên địa bàn tỉnh trong năm 2027 nhằm theo dõi tình hình sâu bệnh, lượng mưa, độ ẩm và các yếu tố thời tiết phục vụ sản xuất. Trên cơ sở đó, hệ thống sẽ hỗ trợ cảnh báo, hướng dẫn nông dân phòng trừ sâu bệnh, lựa chọn thời vụ và tổ chức sản xuất phù hợp.
Việc ứng dụng công nghệ số giúp hợp tác xã quản lý, kiểm soát quy trình sản xuất thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian và mở rộng khả năng quảng bá sản phẩm.
Để hỗ trợ nông dân tiếp cận công nghệ, ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đang xây dựng câu lạc bộ 1.000 nông dân số, hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh và các phần mềm phục vụ cập nhật nhật ký sản xuất, quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc. Tỉnh đồng thời đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa đồng ruộng, ứng dụng thiết bị bay không người lái trong phun thuốc bảo vệ thực vật và máy móc trong gieo trồng, thu hoạch.
Để người nông dân làm chủ công nghệ số
Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lạng Sơn, trong lĩnh vực nông nghiệp việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đã từng bước đi vào chiều sâu. Đến nay, toàn tỉnh có 739,7ha cây trồng thực hiện tưới phun hoặc tưới nhỏ giọt tự động và bán tự động; hơn 46ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và ứng dụng nhật ký điện tử vào truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Hiện nay, có khoảng 5% các hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử trong việc giới thiệu, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trên các sàn giao dịch điện tử. Các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao góp phần tăng năng suất, giảm giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong nông nghiệp vẫn gặp khó khăn do trình độ công nghệ thông tin của nông dân chưa đồng đều; khả năng sử dụng thiết bị và phần mềm còn hạn chế. Hơn nữa, một số địa bàn vùng sâu, xa còn hạn chế về hạ tầng viễn thông, chất lượng mạng internet chưa ổn định, gây khó khăn trong việc khai thác các nền tảng số, sử dụng các ứng dụng AI và triển khai các thiết bị IoT phục vụ sản xuất.
Mặt khác, kinh phí đầu tư cho các thiết bị cảm biến, hệ thống quan trắc, camera giám sát, phần mềm quản lý và các giải pháp nông nghiệp thông minh còn khá lớn so với khả năng đầu tư của nhiều hộ sản xuất và hợp tác xã. Ở nhiều địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống việc tiếp cận công nghệ còn hạn chế.
Dữ liệu về cây trồng, vật nuôi, dịch hại, thời tiết và thị trường chưa được chuẩn hóa, liên thông và cập nhật thường xuyên. Đồng thời, đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu về AI, IoT và phân tích dữ liệu còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn mới.
Nhiều chuyên gia nông nghiệp cho rằng, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phục vụ phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh; ưu tiên chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ sản phẩm.
Đồng thời, đẩy mạnh đầu tư hạ tầng số, mở rộng vùng phủ Internet băng thông rộng và 5G; tập trung xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp, đất đai, môi trường, lâm nghiệp, vùng trồng, vật nuôi, truy xuất nguồn gốc; khuyến khích ứng dụng IoT, cảm biến, tưới thông minh, camera, AI và các giải pháp tự động hóa đối với những vùng sản xuất tập trung, ngành hàng có giá trị và có khả năng nhân rộng…
Trao đổi về vấn đề này, theo Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia Lê Quốc Thanh: “Hiện nay, yêu cầu thị trường ngày càng cao, đòi hỏi sản phẩm phải có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và minh chứng về quy trình sản xuất thông qua nhật ký điện tử. Do đó, nếu vẫn duy trì phương thức sản xuất truyền thống, người sản xuất sẽ khó đáp ứng những yêu cầu này. Thực tế cho thấy, ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin và các giải pháp nông nghiệp thông minh là xu hướng tất yếu, giúp việc quản lý, lưu trữ thông tin, minh bạch quy trình sản xuất, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường và tăng sức cạnh tranh cho nông sản”.