Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ dân tộc thiểu số

Kể từ khi thông qua Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000, Việt Nam đã chứng tỏ là một thành viên tích cực, có trách nhiệm. Cụ thể, Việt Nam đã sớm hoàn thành tám mục tiêu được đề ra trong văn bản quan trọng này, nổi bật là thành tựu về thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ trong đời sống xã hội. Những kết quả ấn tượng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn huyện Mường Khương (Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền về bình đẳng giới.
Cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn huyện Mường Khương (Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền về bình đẳng giới.

Thực tế cho thấy, quan niệm lạc hậu "trọng nam, khinh nữ" ở các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam đã tồn tại dai dẳng trong lịch sử hàng nghìn năm qua, do đó việc xóa bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng giới là một nhiệm vụ khó khăn và không ít thách thức. Ở Việt Nam, tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, nhiều tập tục lạc hậu của các dân tộc thiểu số vẫn duy trì, điển hình là nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết, bắt vợ, đẻ nhiều con. Báo cáo số liệu về phụ nữ và nam giới các dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 2015-2019 được UN Women (Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới), Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc tiến hành cho thấy: Tảo hôn vẫn chiếm tỷ lệ đáng lo ngại là 21,9%, tỷ lệ người dân tộc thiểu số kết hôn cận huyết chiếm 5,6%. Tình trạng tảo hôn, thậm chí còn gia tăng ở một số địa bàn trong giai đoạn đại dịch Covid-19 diễn ra. Bên cạnh đó, trong ba quý đầu năm 2022, Ban Dân tộc tại một số tỉnh, thành phố cũng thừa nhận tình trạng tảo hôn có giảm nhưng còn chậm, chưa bền vững và đồng đều. Tại Cao Bằng, trong quý III/2022 có 8/10 huyện, thành phố không có tình trạng tảo hôn nhưng riêng hai huyện Hà Quảng và Bảo Lạc lại phát sinh 59 trường hợp.

Tảo hôn không phải là hủ tục duy nhất cho thấy tình trạng bất bình đẳng giới đang diễn ra tại cộng đồng 53 dân tộc thiểu số. Sau khi lập gia đình, người phụ nữ tiếp tục phải đối mặt với hàng loạt khó khăn phát sinh từ những tục lệ cổ hủ. Theo khảo sát gần đây của UNPFA (Quỹ Dân số Liên hợp quốc) và Bộ Y tế, chỉ 11% số bà mẹ thuộc các dân tộc ít người tại 60 xã ở các tỉnh khó khăn nhất, đó là Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Đắk Nông, Kon Tum và Gia Lai được khám thai ít nhất bốn lần. Tỷ lệ bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế chỉ khoảng 30%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình cả nước là 96%. Xã nghèo Lùng Cải (Hà Giang) vẫn có hơn 75% số thai phụ sinh đẻ tại nhà. Tập quán sinh nhiều con và thích con trai cũng trực tiếp tạo ra mối nguy hiểm thường trực đối với sức khỏe, tính mạng của bà mẹ và trẻ em người dân tộc thiểu số.

Bên cạnh rào cản từ các định kiến cũ, thách thức của công tác bình đẳng giới còn đến từ khoảng cách địa lý, địa hình hiểm trở và giao thông không thuận lợi. Ở thời điểm hiện tại, phần lớn trẻ em gái vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có cơ hội học tiểu học tại các điểm trường gần nhà. Tuy nhiên ở các cấp học cao hơn, các em bắt buộc phải di chuyển một chặng đường dài để đến lớp. Thống kê cho thấy đến nay, trẻ em của 14 dân tộc thiểu số, đặc biệt là trẻ em gái vẫn phải vượt quãng đường từ 20km đến hơn 50km đường rừng núi nguy hiểm để đến trường trung học phổ thông. Như trẻ em Ơ Đu (Nghệ An) phải vượt 52,2km mới đến được điểm trường. Học vấn thấp dẫn đến hệ quả phụ nữ người dân tộc thiểu số khó có cơ hội nhận được công việc ổn định, thu nhập cao khi chỉ có 8,9% lực lượng lao động nữ người dân tộc thiểu số đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên. Thực tế, 76,4% số lao động nữ người dân tộc thiểu số phải làm việc trong các môi trường nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại. Trường hợp, phụ nữ người dân tộc thiểu số là nạn nhân của tội phạm mua bán người và lao động cưỡng bức thời gian qua đã dấy lên hồi chuông báo động trong toàn xã hội.

Việt Nam luôn xác định thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng, cần được ưu tiên thực hiện, góp phần bảo đảm quyền con người trong xã hội. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những động thái quyết liệt trong việc chỉ đạo, điều hành, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, xây dựng chính sách, chương trình về vấn đề này bao gồm: Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật Lao động 2019, Nghị định số 125/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 (Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 3/3/2021)… Hệ thống văn bản nêu trên đã tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng nhằm khẳng định, bảo vệ và phát huy vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong xã hội Việt Nam hiện đại.

Trong một vài năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã tích cực hoạch định đường lối, chính sách riêng, phù hợp phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số. Một số chính sách đã phát huy những tín hiệu tích cực khi triển khai trong đời sống như: Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025" (Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015); đề án "Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025" (Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017), Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021), Chương trình truyền thông về bình đẳng giới vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2030, giai đoạn I: từ năm 2021-2025 (Quyết định số 849/QĐ-UBDT ngày 14/11/2021). Bên cạnh đó, nội dung bình đẳng giới cũng được lồng ghép trong nhiều chương trình quan trọng của Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/1/2022).

Như vậy, các chính sách hiện nay về cơ bản khẳng định vấn đề bình đẳng giới phải được bao trùm lên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế đến văn hóa thông tin trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các mục tiêu, nhiệm vụ với phương hướng, giải pháp về nâng cao bình đẳng giới được Đảng, Nhà nước đề ra. Nhưng ở chiều ngược lại, chúng cũng tạo ra thách thức không nhỏ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở cơ sở vốn chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản, thiếu kỹ năng trình độ và am hiểu về văn hóa, tập quán, tiếng nói của các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn.

Ngoài ra, vấn đề quản lý, giải ngân và sử dụng ngân sách dành cho công tác bình đẳng giới cũng rất đáng lưu tâm, đặc biệt với một số lĩnh vực khó có thể đo lường chính xác về chất lượng, hiệu quả như văn hóa và thông tin. Không chỉ vậy, nhiều nội dung của các chương trình, đề án chưa phù hợp nhiệm vụ chi của từng địa phương, dẫn đến tốc độ giải ngân vốn đầu tư còn chậm. Điều này vừa gây ra rào cản cho các địa phương trong việc tiếp nhận nguồn vốn để thực thi công tác bình đẳng giới, đồng thời tạo thời cơ cho một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí tung ra luận điệu Nhà nước Việt Nam chỉ "giỏi làm chính sách, chủ trương trên giấy". Thêm vào đó, phải cẩn trọng trước các hành vi cổ xúy bất bình đẳng giới núp bóng nghiên cứu, bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.

Cùng với đó, để hiện thực hóa các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụ nữ ở các dân tộc thiểu số, cần có sự hỗ trợ, đồng thuận, giúp sức của các gia đình, cộng đồng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ở đây, tiếng nói của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng đóng một vai trò quan trọng đến sự thành công của chính sách. Bởi vậy cần tích cực hơn nữa trong công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho những bậc cao niên, có vị trí, tầm ảnh hưởng trong cộng đồng. Đây vốn là một công tác đã được triển khai trong một thời gian dài và thu về những kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số điểm hạn chế như nội dung giảng dạy còn trừu tượng, ít trực quan, thiếu sinh động khiến người học khó tiếp thu và ứng dụng; địa điểm tổ chức khóa học còn chưa thuận tiện cho việc đi lại, nhất là khi đối tượng hướng đến là người cao tuổi. Các chế độ, chính sách hỗ trợ cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn chỉ mang tính tượng trưng, động viên, trong khi khối lượng công việc mà họ phải gánh vác lại tương đối lớn. Do đó, mỗi địa phương cần quan tâm, có những chính sách thỏa đáng với lực lượng nòng cốt này.

Dẫu còn một vài hạn chế, không thể phủ nhận Việt Nam đã và đang làm tốt các chính sách về bình đẳng giới, từng bước nâng cao vị thế của người phụ nữ và trẻ em gái người dân tộc thiểu số trong gia đình, cộng đồng, xã hội. Năm 2022, dù điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19, chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam năm 2022 là 83/146 quốc gia, tăng bốn bậc so với năm 2021, trong đó các chỉ số về trao quyền cho phụ nữ, lĩnh vực sức khỏe và giáo dục có những bước tiến rõ rệt. Tuy mới được triển khai, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 đã đạt 6/20 chỉ tiêu cơ bản. Nhiều chỉ tiêu khác có thể sớm hoàn thành vào năm 2025. Từ những thành tựu đạt được, các cơ quan, bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương vẫn cần phải đẩy mạnh công tác bình đẳng giới để phụ nữ và trẻ em gái của tất cả 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn được bảo đảm, giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cũng như phát triển, phát huy các giá trị, vai trò của mỗi cá nhân.

Có thể bạn quan tâm

Đối diện với "giặc lửa" người lính phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ vẫn luôn bất khuất kiên cường. (Ảnh: Công an Hà Nội)

65 năm giữ trọn lời thề giữ bình yên cho Thủ đô

Kể từ ngày 4/10/1961, Ngày truyền thống Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, một hành trình đã được viết tiếp suốt 65 năm qua bằng tất cả lòng trung thành, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm và cả những hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Thủ đô.

Chị Lê Thị Diện, gương mặt “Tỏa sáng nghị lực Việt” năm 2026 trong một chương trình thời trang dành cho người khuyết tật. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Đồng hành thanh niên khuyết tật

Gắn với các phong trào tuổi trẻ, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam luôn xác định, đồng hành hỗ trợ thanh niên khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng. Trong đó, “Tỏa sáng nghị lực Việt” là một chương trình giàu giá trị nhân văn, lan tỏa mạnh mẽ nghị lực, truyền cảm hứng sống đẹp cho các bạn trẻ.

[Video] Thành phố Hồ Chí Minh khuyến cáo không cố vượt vùng ngập, bảo đảm an toàn giao thông

[Video] Thành phố Hồ Chí Minh khuyến cáo không cố vượt vùng ngập, bảo đảm an toàn giao thông

Ngày 3/10, trước diễn biến mưa dông, mưa lớn tiếp diễn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Cảnh sát giao thông (PC08), Công an Thành phố khuyến cáo người dân chủ động lựa chọn lộ trình, giảm tốc độ, giữ khoảng cách an toàn và đặc biệt không cố vượt qua những khu vực ngập sâu, không nhìn rõ mặt đường.

Hướng dẫn các tính năng số cho người dân tại địa bàn thôn Ngọc Rào, xã Phong Nha, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HNV)

Chín tháng năm 2026, ổn định đời sống dân cư, cải thiện an sinh xã hội

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 9 tháng năm 2026, tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định, an sinh xã hội được cải thiện. Chính phủ và địa phương triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ đối với người có công, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các nhóm dân cư gặp khó khăn.

Tin nổi bật ngày 3/10: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Đại hội toàn quốc Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam lần thứ II; Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%

Tin nổi bật ngày 3/10: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Đại hội toàn quốc Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam lần thứ II; Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu Công an nhân dân Việt Nam lần thứ II; Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương; Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%… là một số tin tức nổi bật ngày 3/10/2026.

Chín tháng năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,8 triệu người, cao hơn 697 nghìn người so cùng kỳ năm 2025. (Ảnh: HNV)

Thị trường lao động 9 tháng năm 2026 khả quan

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 9 tháng qua, quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn so cùng kỳ năm 2025.

Quang cảnh hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Quảng Ngãi yêu cầu chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương dự họp

Chiều 3/10, Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Quốc Việt cho biết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị và lãnh đạo xã, phường, đặc khu thực hiện nghiêm việc đăng ký thành phần tham dự các phiên họp do lãnh đạo tỉnh chủ trì theo đúng thời hạn, đúng thành phần yêu cầu.

Hiện trạng nhà của gia đình bà Nguyễn Thị Tố Nga bị bong gạch, sụt lún gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của gia đình. (Ảnh: CTV)

Dân kêu cứu vì đường thoát nước gây ngập, sụt lún nền nhà nghiêm trọng

Dưới sàn nhà của người dân xuất hiện đường thoát nước, khi mưa lớn gây xói lở, ngập dãy phòng trọ, sụt lún nền nhà, bong gạch gây ảnh hưởng nghiêm trọng sinh hoạt, thậm chí có nguy cơ sập nhà. Sự việc đã được phản ánh với chính quyền địa phương nhiều lần nhưng vẫn chưa được hỗ trợ giải quyết một cách triệt để.

Đoàn công tác giao lưu với Đội xung kích phòng, chống thiên tai phường Linh Sơn, Thái Nguyên. (Ảnh: Đại sứ quán Australia tại Việt Nam)

Australia và UNDP chung tay hỗ trợ tỉnh Thái Nguyên khắc phục hậu quả bão lũ

Đoàn công tác gồm đại diện Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Cục quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai (VDDMA), Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa đến Thái Nguyên để đánh giá tiến độ, kết quả của hoạt động phục hồi sau thiên tai do Australia và UNDP phối hợp triển khai.

Người dân dũng cảm dùng búa phá mái nhà cứu người thoát nạn trong vụ cháy tại phường Hoàng Mai (Hà Nội). (Ảnh: HÀ NHUNG)

Huy động sức mạnh toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy

Huy động sức mạnh của người dân trong phòng cháy, chữa cháy luôn là nội dung được truyền tải trong mỗi dịp hưởng ứng Ngày Toàn dân phòng cháy, chữa cháy 4/10. Từ ý thức, sự phối hợp của mỗi cá nhân sẽ tạo nên một thế trận từ nhân dân, của nhân dân, trở thành tấm khiên giáp kiên cố đối mặt với hỏa hoạn khi không may xảy ra.