Thụ tinh từ phôi trữ lạnh, thêm cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn

Cặp song sinh Lê Thu Nga -
Lê Thành Trung ra đời từ kỹ thuật
thụ tinh trữ phôi lạnh.
Cặp song sinh Lê Thu Nga - Lê Thành Trung ra đời từ kỹ thuật thụ tinh trữ phôi lạnh.

Cứ  100 cặp vợ chồng có 10 cặp có "vấn đề"

Với các biện pháp điều trị vô sinh như kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), ICSI, MESA/ICSI, tạo hình tử cung, vi phẫu vòi tử cung, cho ra đời 500 cháu bé, đến nay BV Phụ sản TƯ lại tiếp tục thành công khi áp dụng trữ và chuyển phôi đông lạnh cho 50 trường hợp, trong đó có 15 trường hợp mang thai.

Theo TS Nguyễn Viết Tiến - Quyền Giám đốc BV Phụ sản TƯ, tại Việt Nam, cứ 100 cặp vợ chồng thì có 10 cặp cần đến tư vấn về hỗ trợ sinh sản. Vì vậy có thể coi đây là tin mừng đối với nhiều cặp vợ chồng bị vô sinh, mở ra cơ hội được làm cha mẹ cho họ.

Hiện nay, kỹ thuật điều trị vô sinh bằng TTTON gắn liền với kích thích buồng trứng nhằm thu được nhiều trứng, tạo được nhiều phôi qua đó có được một số phôi tốt để chuyển trở lại vào tử cung của người mẹ. Kích thích buồng trứng sẽ có khả năng thừa phôi. Nhưng nếu không kích thích buồng trứng thì tỷ lệ điều trị thành công sẽ thấp do ít phôi tốt. Mặt khác, nếu chuyển nhiều phôi sẽ tăng tỷ lệ đa thai, nhưng nếu đơn thuần hủy phôi thừa là điều đáng tiếc, thậm chí bị cấm ở một số quốc gia. Trước những mâu thuẫn đó, trữ phôi để chuyển sau này khi có điều kiện thuận lợi được xem là hướng đi thích hợp nhất.

Theo các chuyên gia điều trị vô sinh việc chuyển phôi sau trữ lạnh rã đông là một trong những kỹ thuật không thể thiếu của bất kỳ một trung tâm hỗ trợ sinh sản lớn nào trên thế giới. Mục đích của trữ lạnh là nhằm hạn chế tình trạng đa thai, tăng tỷ lệ phôi được sử dụng trong một chu kỳ kích thích buồng trứng, do đó, tăng hiệu quả điều trị. Ngoài ra, trong một số trường hợp, trữ lạnh phôi còn là một biện pháp giảm các tai biến quá kích buồng trứng thể nặng. Trữ phôi lạnh giúp tăng thêm cơ hội thụ thai cho bệnh nhân điều trị vô sinh. Hơn nữa, đối với kỹ thuật cho phôi hoặc cho trứng, trữ phôi cho phép có thời gian chuẩn bị niêm mạc tử cung của người nhận (thực hiện quy trình an toàn vì có thời gian phát hiện những bệnh truyền nhiễm trong thời gian cửa sổ).

Phôi đông lạnh có thể giữ đến 8 năm

Thạc sĩ, bác sĩ Lê Thị Phương Lan - Trung tâm hỗ trợ sinh sản (BV Phụ sản TƯ), cho biết phôi đông lạnh có thể lưu giữ không hạn chế về mặt thời gian. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy sau tám năm trữ lạnh chất lượng phôi sẽ giảm hẳn. Đối với một bệnh nhân, BV không khống chế số lượng phôi trữ lạnh. Nếu tất cả các phôi đạt yêu cầu đều có thể trữ lạnh để phục vụ cho việc chuyển phôi sau này. Bác sĩ Lan cho biết thêm khả năng có thai sau chuyển phôi trữ lạnh cũng như phôi tươi phải phụ thuộc vào 2 yếu tố là chất lượng của phôi và niêm mạc tử cung của sản phụ. Hiện nay, chi phí cho 1 lần trữ phôi là 2 triệu đồng, rã đông và chuyển phôi khoảng 1,1 triệu đồng.

Thống kê trên thế giới cho thấy tỷ lệ có thai chung sau chuyển phôi, sau rã đông khoảng 10-12% . Còn tại BV Phụ sản TƯ tỷ lệ này là 30%. Việc ứng dụng thành công kỹ thuật cấy phôi đông lạnh mở ra triển vọng thực hiện TTTON một cách dễ dàng hơn so với trước đây (thường phải thực hiện lại từ đầu trong trường hợp thất bại ở lần TTTON bằng phôi tươi).

Tại Việt Nam, kỹ thuật TTTON trong những năm qua đã đạt được thành công ổn định và đang phát triển. Kỹ thuật trữ phôi được áp dụng thành công sẽ càng làm tăng thêm hiệu quả của điều trị, giảm chi phí cho bệnh nhân và hạn chế tỷ lệ đa thai. Nói cách khác, trữ phôi sẽ trở thành loại dịch vụ mà một trung tâm hỗ trợ sinh sản hoàn chỉnh cần phải có.

Nhiều thống kê trên thế giới cho thấy tỷ lệ có thai từ các chu kỳ chuyển phôi trữ thường thấp hơn so với chuyển phôi tươi, dao động từ 4- 20%. Kỹ thuật trữ phôi hiện được áp dụng thường quy ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới với kết quả tốt. Phương pháp này đã giúp nhiều cặp vợ chồng trên thế giới bị vô sinh được làm cha mẹ.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh bệnh nhân trước và sau điều trị.

Ung thư biểu mô tế bào đáy tái phát liên tiếp, lời cảnh báo từ bác sĩ

Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) – loại ung thư da phổ biến nhất – thường có tiên lượng tốt nhưng không hề “vô hại” như nhiều người nghĩ. Trường hợp một bệnh nhân gần 60 tuổi phải phẫu thuật tới 3 lần do tái phát liên tiếp cho thấy tính chất xâm lấn âm thầm, ranh giới khó kiểm soát của bệnh, đặc biệt ở vùng mặt nguy cơ cao.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

Tiến sĩ, bác sĩ Cao Việt Tùng thực hiện thay van động mạch phổi qua da cho bé L.V với sự tư vấn của chuyên gia Hàn Quốc.

Tránh “cưa xương ức” lần hai, bé 14 tuổi được thay van tim qua da chỉ trong 2 giờ

13 năm sau ca phẫu thuật điều trị tứ chứng Fallot, van động mạch phổi dần suy giảm theo quy luật tự nhiên của cơ thể, khiến bé gái đứng trước nguy cơ phải cưa xương ức để thay van lần hai. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật tiên tiến thay van động mạch phổi qua da, em đã có thể tránh được cuộc đại phẫu thêm một lần nữa.

Quang cảnh hội nghị chiều 28/4 nhằm tháo gỡ khó khăn cho "phòng tuyến" y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Cà Mau nhận diện để gỡ khó cho tuyến y tế cơ sở

Kể từ khi chính thức thu gọn từ 164 xuống còn 64 đơn vị (sau hợp nhất tỉnh), hệ thống y tế cơ sở tại Cà Mau đối mặt với không ít khó khăn, nhất là thiếu hụt lãnh đạo, biên chế chuyên môn, cùng hạ tầng chắp vá... Đây là những điểm nghẽn được lãnh đạo Cà Mau nhận diện để sớm khơi thông.

Dự phòng chủ động RSV góp phần ổn định sức khỏe, cải thiện chất lượng sống. Ảnh: Shutterstock

Nhiễm trùng do RSV dễ tiến triển nặng ở người lớn mắc phổi tắc nghẽn mạn tính: Giải pháp nào để kiểm soát?

Theo Bộ Y tế, gần 10% dân số Việt Nam “sống chung” với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) - nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên toàn thế giới vào năm 2021. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân COPD có nguy cơ cao mắc bệnh do virus hợp bào hô hấp (RSV) và có thể dẫn đến các đợt cấp, nhập viện, một số biến chứng khác.