Tăng mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa từ ngày 1/7

Từ ngày 1/7/2022, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa của người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do đơn vị lao động quyết định cũng tăng theo lương tối thiểu mới.

Lao động ở Công ty TNHH Sản xuất Thương mại thiết bị Nam Anh, Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh minh họa: Quang Quý)
Lao động ở Công ty TNHH Sản xuất Thương mại thiết bị Nam Anh, Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh minh họa: Quang Quý)

Theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 1/7/2022, mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng. Do đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa của người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định cũng có sự gia tăng.

Cụ thể, căn cứ khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cao nhất mà người lao động có thể nhận hằng tháng sau khi nghỉ việc như sau: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, hoặc không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật Lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Các mức cụ thể như sau: Vùng I: 23,4 triệu đồng; vùng II: 20,8 triệu đồng; vùng III: 18,2 triệu đồng; vùng IV: 16,25 triệu đồng.

Như vậy, khi lương tối thiểu vùng tăng, mức hưởng 5 lần mức lương tối thiểu vùng khi nhận trợ cấp thất nghiệp của người lao động cũng tăng theo.

Đồng thời, triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã phối hợp Văn phòng Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan để cung cấp dịch vụ công giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia (tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn). Theo đó, Quy trình tiếp nhận và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia gồm 5 bước. Điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người lao động và người sử dụng lao động trong triển khai các thủ tục hành chính về trợ cấp thất nghiệp, giảm thời gian và tiết kiệm chi phí.

Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động thực hiện quyền và trách nhiệm theo quy định hiện hành. Việc chuyển quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động cũng triển khai như quy định hiện hành.

Chính sách về bảo hiểm thất nghiệp đã được áp dụng từ ngày 1/1/2009. Theo quy định mới nhất của Luật Việc làm có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng đối tượng tham gia. Chính sách gồm bốn chế độ: (1) trợ cấp thất nghiệp, (2) hỗ trợ tìm việc làm, (3) hỗ trợ học nghề, (4) hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.

Được biết, tới hết năm 2021, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp gần 13,4 triệu người, đạt 27,33% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.