Sau 5 năm, dân số Việt Nam tăng thêm 4,9 triệu người

Kể từ năm 2019 đến nay, tốc độ tăng dân số của Việt Nam giảm do mức sinh giảm. Tuy nhiên, quy mô dân số vẫn duy trì trạng thái ổn định, bình quân mỗi năm tăng khoảng gần 1 triệu người. Sau 5 năm, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 4,9 triệu người.
Các em nhỏ tại điểm trường Hát Khoang (xã Mường Mùn, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Ảnh minh họa: THỦY NGUYÊN
Các em nhỏ tại điểm trường Hát Khoang (xã Mường Mùn, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên). Ảnh minh họa: THỦY NGUYÊN

Việt Nam vượt mốc 101 triệu người từ ngày 1/4/2024

Ngày 6/1/2025, Tổng cục Thống kê công bố Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 (sau đây gọi tắt là Điều tra dân số giữa kỳ 2024).

Cơ quan này cho biết, kể từ năm 2019 đến nay, mặc dù tốc độ tăng dân số của Việt Nam giảm do mức sinh giảm nhưng quy mô dân số vẫn duy trì trạng thái ổn định, bình quân mỗi năm tăng khoảng gần 1 triệu người. Sức khỏe của người dân được tăng cường. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi giảm mạnh. Tuổi thọ của người dân tiếp tục được tăng cao.

Thông tin từ Điều tra dân số giữa kỳ 2024 cho thấy, ở thời điểm 1/4/2024, dân số Việt Nam là 101.112.656 người. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và thứ 16 trên thế giới. Sau 5 năm, kể từ năm 2019 đến nay, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 4,9 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2019-2024 là 0,99%/năm, giảm 0,23 điểm phần trăm so với giai đoạn 2014-2019 (1,22%/năm).

Ở thời điểm 1/4/2024, dân số Việt Nam là 101.112.656 người. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và thứ 16 trên thế giới.

Trong tổng dân số cả nước, dân số nam là 50.346.030 người, chiếm 49,8%; dân số nữ là 50.766.626 người, chiếm 50,2%. Dân số thành thị là 38.599.637 người, chiếm 38,2%; dân số nông thôn là 62.513.019 người, chiếm 61,8%. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị giai đoạn 2019-2024 là 3,06%/năm, gấp 1,5 lần tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực thành thị của cả nước giai đoạn 2014-2019 (2,02%).

Cả nước có 28.146.939 hộ dân cư, tăng gần 1,3 triệu hộ so với năm 2019, tăng 3,9 triệu hộ so với năm 2014 và gấp khoảng 1,25 lần so với 15 năm trước (năm 2009).

Mật độ dân số của Việt Nam là 305 người/km2, tăng 15 người/km2so với năm 2019. Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau Singapore (8.539 người/ km2) và Philippines (386 người/ km2).

Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số cao nhất toàn quốc, tương ứng là 1.126 người/km2 và 814 người/km2. Trung du và miền núi phía bắc và Tây Nguyên là hai vùng có mật độ dân số thấp nhất, tương ứng là 140 người/km2 và 114 người/km2.

Tỷ số giới tính của dân số là 99,2 nam/100 nữ. Trong đó, tỷ số giới tính khu vực thành thị là 96,7 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,7 nam/100 nữ.

Tỷ số giới tính có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, cao nhất ở nhóm 0-10 tuổi (110,2 nam/100 nữ) và thấp nhất ở nhóm từ 80 tuổi trở lên (53,8 nam/100 nữ). Tỷ số giới tính gần như cân bằng ở nhóm 40-49 tuổi (100,8 nam/100 nữ) và bắt đầu giảm xuống dưới 100 ở nhóm 50-59 tuổi (97,3 nam/100 nữ).

Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 24 triệu người, chiếm 23,7% tổng dân số cả nước; Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với 6,2 triệu người, chiếm 6,2% dân số cả nước.

Trong giai đoạn 2019-2024, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số bình quân năm cao nhất cả nước (1,46%/năm); Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tăng dân số bình quân năm thấp nhất (0,29%/năm).

Cả nước có 19 tỉnh với quy mô dân số nhỏ, dưới 1 triệu người; 37 tỉnh có quy mô dân số từ 1 đến 2 triệu người; 7 tỉnh có quy mô dân số trên 2 triệu người. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố có quy mô dân số lớn nhất, tương ứng là 8.685.607 người và 9.521.886 người.

Chênh lệch về dân số giữa địa phương đông dân nhất cả nước (Thành phố Hồ Chí Minh) và địa phương ít dân số nhất cả nước (Bắc Kạn) là hơn 29 lần (dân số của Bắc Kạn là 328.609 người).

Cả nước có hơn 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên

Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, với hai người trong độ tuổi lao động thì có một người phụ thuộc. Trong đó, tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 67,4% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2019), tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi chiếm 23,3% (giảm 1 điểm phần trăm so với năm 2019) và tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 9,3% (tăng 1,6 điểm phần trăm so với năm 2019).

Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024.

Chỉ số già hóa năm 2024 là 60,2%, tăng 11,4 điểm phần trăm so với năm 2019 và 16,9 điểm phần trăm so với năm 2014.

Số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người, tăng 2,8 triệu người (tương ứng gấp 1,25 lần) so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người (tương ứng gấp 1,5 lần) so với năm 2014.

Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024.

Mức sinh của Việt Nam có dấu hiệu giảm nhanh

Cũng theo cơ quan thống kê quốc gia, tổng tỷ suất sinh (TFR) là 1,91 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế. Trong hai năm gần đây, 2023-2024, mức sinh Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu giảm nhanh hơn.

Cụ thể, kể từ năm 2009 đến hết năm 2022, trong suốt gần 15 năm, mức sinh của Việt Nam giữ trạng thái tương đối ổn định chung quanh mức sinh thay thế. Năm 2023, TFR của Việt Nam là 1,96 con/phụ nữ và con số này giảm tiếp xuống còn 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024.

TFR của khu vực thành thị là 1,67 con/phụ nữ, thấp hơn so với khu vực nông thôn (2,08 con/phụ nữ). Cơ quan thống kê cũng chỉ ra sự khác biệt đáng kể về mức sinh giữa các vùng kinh tế-xã hội trong cả nước. Trung du và miền núi phía bắc, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên là các vùng có mức sinh cao, cao hơn mức sinh thay thế (lần lượt là 2,34 con/phụ nữ, 2,24 con/phụ nữ). Hai vùng có mức sinh thấp và thấp hơn mức sinh thay thế là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (lần lượt là 1,48 con/phụ nữ, 1,62 con/phụ nữ).

Tỷ suất sinh thô (CBR) của Việt Nam năm 2024 là 13,5 trẻ sinh sống/1000 dân. Chỉ số này ở khu vực thành thị là 12,8 trẻ sinh sống/1000 người dân; ở khu vực nông thôn là 13,9 trẻ sinh sống/1000 người dân).

Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam là 111,4 bé trai/100 bé gái, cao hơn khá nhiều so với mức cân bằng là khoảng 106 bé trai/100 bé gái. Tình trạng SRB ở mức cao này đã quan sát được từ nhiều năm nay ở Việt Nam.

Điều này là bằng chứng về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài khá lâu ở Việt Nam và những cảnh báo về hệ lụy của sự mất cân bằng giới tính khi sinh cùng với sự quyết liệt thực hiện các chính sách nhằm xóa bỏ sự can thiệp có chủ đích trong lựa chọn giới tính khi mang thai ở Việt Nam trong thời gian qua chưa đạt hiệu quả cao; tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh chưa được khắc phục.

Tỷ suất chết thô của Việt Nam năm 2024 là 5,6 người chết/1000 dân, trong đó của thành thị là 4,6 người chết/1000 dân; nông thôn là 6,3 người chết/1000 dân.

Từ năm 2009 đến năm 2024, tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi (IMR) giảm từ 16,0 xuống 11,3 trẻ tử vong trên 1000 trẻ sinh sống. Ở khu vực thành thị, IMR giảm từ 9,4 xuống 7,0 trẻ em tử vong trên 1000 trẻ em sinh sống, trong khi đó ở nông thôn IMR đã giảm từ 18,7 xuống 12,1 trẻ em tử vong trên 1000 trẻ em sinh sống.

Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR) của Việt Nam năm 2024 là 16,9 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống, giảm so với năm 2019 (21,0 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống). Con số này có sự khác biệt rất rõ giữa thành thị - nông thôn và giữa các vùng trên cả nước. U5MR của khu vực nông thôn gấp gần hai lần ở khu vực thành thị (tương ứng là 22,3 và 16,0 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống). Vùng trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có U5MR khá cao (24,4 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống và 26,7 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống).

Tuổi thọ bình quân năm 2024 của cả nước là 74,7 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 72,3 tuổi, của nữ giới là 77,3 tuổi. So với năm 2019, tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của Việt Nam đã tăng lên 1,1 năm; mức tăng tuổi thọ của nam giới cao hơn so với mức tăng của phụ nữ, tương ứng là 1,3 năm và 1 năm.

Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 1/4/2024 là cuộc điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ lần thứ hai được thực hiện ở Việt Nam sau cuộc điều tra lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2014.

Mục đích điều tra nhằm thu thập thông tin về dân số và nhà ở làm cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2021-2025; xây dựng chính sách, lập kế hoạch dân số và nhà ở phục vụ xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2026-2030; giám sát thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết.

Điều tra chọn mẫu, quy mô mẫu lớn, cỡ mẫu khoảng 20% địa bàn điều tra của cả nước (tương đương 39.340 địa bàn điều tra), mẫu được thiết kế bảo đảm mức độ đại diện đến cấp huyện đối với chỉ tiêu về quy mô dân số và cấp tỉnh đối với các chỉ tiêu còn lại. Đồng thời thu thập thông tin cơ bản về dân số và nhân khẩu học, tình hình biến động dân số (sinh, chết và di cư), điều kiện ở và sinh hoạt của hộ dân cư.

Có thể bạn quan tâm

Lực lượng chức năng tìm kiếm các nạn nhân trong vụ sạt lở đá chiều tối 20/5/2026 tại mỏ khai thác đá thuộc xã Cẩm Tú, tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: nhandan.vn)

Phòng ngừa tai nạn lao động

Bộ Nội vụ vừa ban hành thông báo về tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2026. Theo đó, cả nước ghi nhận 3.415 vụ tai nạn, 3.476 người bị nạn với 378 vụ chết người, 391 người chết và 747 người bị thương nặng.

Đánh giá bằng KPI giúp Gia Lai nâng cao chất lượng cán bộ trong thực thi công vụ

Minh bạch hóa đánh giá cán bộ bằng KPI

Những năm gần đây, tỉnh Gia Lai đạt nhiều kết quả trong cải cách hành chính, nhất là đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức. Từ ngày 1/7/2026, tỉnh triển khai hệ thống đánh giá hiệu suất công vụ (KPI) dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo và liên thông dữ liệu.

[Video] Hơn 39.000 đơn vị nợ xấu 5.100 tỷ đồng bảo hiểm xã hội

[Video] Hơn 39.000 đơn vị nợ xấu 5.100 tỷ đồng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết hiện có hơn 39.000 đơn vị nợ xấu với số tiền khoảng 5.100 tỷ đồng tiền bảo hiểm xã hội. Nhiều doanh nghiệp trong số đó đã ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc không còn tại địa chỉ đăng ký, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động.

Tin nổi bật ngày 27/10: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đại đội nữ lái xe Trường Sơn

Tin nổi bật ngày 27/10: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đại đội nữ lái xe Trường Sơn

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đại đội nữ lái xe Trường Sơn; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp Chủ tịch Hội Hữu nghị Hàn Quốc-Việt Nam và Đoàn lãnh đạo các tổ chức kiểm toán quốc tế; Bộ Y tế làm rõ những đề xuất mới về hiến mô, tạng ở trẻ dưới 18 tuổi... là một số tin tức nổi bật trong ngày 27/10.

Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ hướng dẫn người dân sử dụng thiết bị báo cháy. (Ảnh: C07)

Thay đổi đáng chú ý trong phương thức quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy

Cắt giảm một thủ tục hành chính không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp mà còn đánh dấu sự chuyển đổi trong phương thức quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Khi doanh nghiệp coi an toàn phòng cháy, chữa cháy là trách nhiệm của chính mình chứ không phó mặc cho cơ quan quản lý.

Đồng chí Nguyễn Chí Thành, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên SCIC phát biểu khai mạc Hội thảo. (Ảnh: Hương Giang)

SCIC tổ chức Hội thảo về “Đề án tái cơ cấu toàn diện SCIC theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp”

Vừa qua, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tổ chức Hội thảo về "Đề án tái cơ cấu toàn diện SCIC theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia". Hội thảo vinh dự được đón đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI, nguyên Thành viên Hội đồng thành viên đến dự và phát biểu.

Lãnh đạo xã Đak Nhau thăm vườn cà-phê xen dưới tán điều của đảng viên Điểu Tân, thôn Đak La.

Ngày thường ở vùng biên giới Đồng Nai

Ở khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc thành phố Đồng Nai, trong cuộc sống hằng ngày, các đảng viên ở cơ sở luôn gương mẫu, tiên phong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.