Bình Luận-Phê Phán

Phát triển công nghiệp văn hóa trước yêu cầu của thời đại

Phát triển công nghiệp văn hóa là một nội dung quan trọng, một nhiệm vụ cấp bách trong Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam tầm nhìn 2030 mà Chính phủ đã ban hành ngày 12/11/2021.
Hội thảo phát triển mạng lưới thành phố sáng tạo diễn ra ngày 21/12/2021 tại Hà Nội.
Hội thảo phát triển mạng lưới thành phố sáng tạo diễn ra ngày 21/12/2021 tại Hà Nội.

Sau một thời gian thực hiện, chúng ta đã thu về những thành tựu bước đầu đáng ghi nhận, nhưng về cơ bản thì con đường mang tên “công nghiệp văn hóa” vẫn còn không ít điểm nghẽn cần được tháo gỡ, trong đó vấn đề thay đổi nhận thức từ các cấp lãnh đạo, người sáng tạo đến người tiêu thụ, thưởng thức văn hóa có ý nghĩa then chốt.

Bài 2: Thay đổi nhận thức để phát triển

Quan sát lộ trình phát triển của các quốc gia trong thời kỳ hội nhập hiện nay, có thể thấy công nghiệp văn hóa luôn giữ một vị trí hàng đầu. Không nói đâu xa, một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã gợi ý cho chúng ta nhiều bài học quý về phát triển công nghiệp văn hóa trong tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Các trào lưu điện ảnh, âm nhạc, truyện tranh,… xuất phát từ các quốc gia này đang có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống, tâm lý người nghe, người xem ở các quốc gia khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Ngoài việc thu về những lợi ích kinh tế đáng kể, các sản phẩm văn hóa còn góp phần khuếch trương, quảng bá văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia.

Đến nay, nhiều quốc gia phát triển nhận thức rất rõ, các tài nguyên dưới lòng đất, dưới biển, trên rừng có thể bị cạn kiệt, nhưng riêng văn hóa (bao gồm các sáng tạo từ trí tuệ con người) sẽ là nguồn của cải vô tận nếu biết khai thác, sử dụng, phát huy giá trị của nó. Dưới góc độ kinh tế, các sản phẩm của công nghiệp văn hóa có thể làm giàu cho một đất nước không thua kém bất cứ một ngành công nghiệp nào. Không chỉ vậy, nó còn là nhân tố gắn kết con người, tăng cường hợp tác, trao đổi, là “vũ khí đặc biệt ” giúp bảo vệ bờ cõi văn hóa quốc gia.

Đảng và Nhà nước ta sớm nhìn ra tiềm năng kinh tế trong phát triển văn hóa, gắn kết kinh tế với văn hóa, nhưng thuật ngữ “công nghiệp văn hóa” thì mới chỉ xuất hiện trong khoảng gần 10 năm trở lại đây. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ: “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 145).

Trước đó, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã nhấn mạnh: “Các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân”. Theo đó, Nhà nước sẽ tạo mọi điều kiện nhằm thu hút cao nhất các nguồn lực trong xã hội để phát triển công nghiệp văn hóa, khai thác các yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa, đồng thời gắn công nghiệp văn hóa với quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 11/2021 một lần nữa nhấn mạnh về tầm quan trọng của phát triển công nghiệp văn hóa trong chiến lược chung về bảo vệ, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.

Như vậy có thể nói, ở tầm vĩ mô, nhận thức của Đảng và Nhà nước ta đã có một sự thay đổi rõ rệt trong lĩnh vực văn hóa nói chung và trong phát triển công nghiệp văn hóa nói riêng, phù hợp xu thế phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.

Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách pháp luật liên quan cũng dần được kiện toàn, làm cơ sở cho công nghiệp văn hóa phát triển thuận lợi, bền vững. Dù vậy, một sự chuyển biến về nhận thức liên quan vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa trong toàn xã hội nói chung vẫn còn hạn chế. Đây là căn nguyên lý giải vì sao so với các mục tiêu khác của chiến lược phát triển văn hóa, mục tiêu về phát triển công nghiệp văn hóa chưa đạt được những kết quả nổi bật trong những năm qua.

Đầu tiên cần phải nhấn mạnh về nhận thức của chính quyền các địa phương trong phát triển công nghiệp văn hóa. Nhìn nhận từ các di sản văn hóa, đối chiếu với quy định của Nhà nước về 12 lĩnh vực khác nhau trong công nghiệp văn hóa gồm: Quảng cáo, kiến trúc, phần mềm và các trò chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, truyền hình và phát thanh, du lịch văn hóa có thể nói rằng, không một địa phương nào không có tiềm năng để phát triển công nghiệp văn hóa.

Mỗi vùng miền, địa phương đều chứa đựng những giá trị độc đáo về văn hóa, làm cơ sở cho phát triển công nghiệp văn hóa. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đã được triển khai tốt ở một địa phương thời gian qua là nhờ vào sự thay đổi trong nhận thức của chính quyền các cấp cơ sở.

Dù chính quyền địa phương không trực tiếp tạo ra các sản phẩm công nghiệp văn hóa nhưng có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng môi trường, liên kết và khơi thông các nguồn lực, ưu đãi đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp và người dân thông qua các chính sách phù hợp. Ở một số địa phương, công nghiệp văn hóa đã đóng góp lớn vào ngân sách địa phương.

Cũng nhờ sự thay đổi trong nhận thức của chính quyền, Hà Nội đang trở thành địa phương đi đầu, lấy nguồn lực văn hóa và sáng tạo văn hóa cho quá trình phát triển đô thị bền vững, trở thành thành viên Mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO. Thành phố Hồ Chí Minh chọn tiêu điểm cho phát triển công nghiệp văn hóa là lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh. Trong khi đó, Đà Nẵng liên tiếp đưa ra các kế hoạch hỗ trợ, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa thông qua các đề án về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa.

Ngoài một số điểm sáng nêu trên, chúng ta thấy rằng, nhận thức về tầm quan trọng của phát triển công nghiệp văn hóa ở các địa phương còn chưa đồng đều. Một số địa phương vẫn chậm trễ trong triển khai chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, do nhận thức còn hạn chế nên thiếu sự đầu tư thỏa đáng, tạo môi trường thuận lợi cho công nghiệp văn hóa phát triển. Do đó, nhiều giá trị, di sản văn hóa độc đáo của địa phương vẫn đang nằm im, chờ được khai thác để tham gia vào thị trường, làm giàu cả về kinh tế lẫn đời sống tinh thần cho người dân.

Nhìn theo ngành dọc không khó để thấy những bất cập về nhận thức vẫn đang còn tồn tại. Các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật vẫn chưa thật sự tham gia mạnh mẽ vào thị trường với tư cách là một sản phẩm hàng hóa. Các hội nghề nghiệp còn lúng túng trong công tác quản lý, tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp, nghệ sĩ sáng tạo để đưa các sản phẩm công nghiệp văn hóa vào đời sống.

Yếu tố cần phải nhấn mạnh tiếp theo trong phát triển công nghiệp văn hóa, là nhận thức của các doanh nghiệp cũng như các văn nghệ sĩ - những người trực tiếp tạo ra sản phẩm văn hóa.

Họ chính là chủ thể của công nghiệp văn hóa, những người đóng vai trò nòng cốt sáng tạo văn hóa. Hiện nay, một số doanh nghiệp cũng như các văn nghệ sĩ đang tích cực chuyển đổi nhận thức để làm văn hóa. Nếu như trước đây, một vở diễn sân khấu, một bộ phim, một cuốn sách, một album nhạc ra đời chỉ được xem đơn thuần là một tác phẩm văn học nghệ thuật thì nay, các nhà sáng tạo đã nhìn nhận rõ ràng, đó còn là một sản phẩm hàng hóa.

Nghĩa là phải tính toán đến yếu tố người mua, người sử dụng và tiêu thụ sản phẩm, làm thế nào để sản phẩm mình làm ra “sống được” trong thị trường vốn nhiều cạnh tranh. Yếu tố khách hàng (ở đây là công chúng, người thưởng thức văn hóa) được đặt lên hàng đầu, bởi chính họ là người đóng góp để “nuôi” người sáng tạo thông qua việc tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa. Dù vậy, đối với không ít doanh nghiệp và người sáng tạo, “công nghiệp văn hóa” vẫn còn là một khái niệm mới mẻ, và chưa thật sự nhập cuộc bằng một sự thay đổi cần thiết trong nhận thức.

Một số doanh nghiệp còn ngần ngại trong đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, dù đã có những điều kiện thuận lợi cả về môi trường đầu tư và cơ chế chính sách hỗ trợ thông thoáng của địa phương. Tư duy cũ cho rằng văn hóa là lĩnh vực tiêu tiền, đầu tư nhiều mà lợi nhuận thu về ít vẫn còn tồn tại. Không ít nghệ sĩ tài năng trước nay vốn quen với quan niệm chỉ làm những gì mình thích mà ít để ý đến yếu tố công chúng, chưa bắt nhịp vào việc liên kết với doanh nghiệp, nhà phát hành để đưa sản phẩm của mình ra với thị trường...

Điều cuối cùng cần nhấn mạnh trong câu chuyện thay đổi nhận thức để phát triển công nghiệp văn hóa chính là ý thức của người dân-với vai trò đối tượng hưởng thụ văn hóa. Trong thời đại bùng nổ công nghệ hiện nay, người dân có điều kiện để tiếp cận nhiều sản phẩm văn hóa đến từ các quốc gia nhưng cần lắm một tinh thần tự tôn văn hóa dân tộc, ủng hộ các sản phẩm văn hóa “nội địa” giống như phong trào “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.

Cố nhiên ai cũng hiểu, khi một sản phẩm văn hóa tham gia vào thị trường phải chấp nhận quy luật của thị trường, không thể trông vào sự “giải cứu” của công chúng, nhưng rất cần sự ủng hộ tích cực từ công chúng, trên tinh thần gạn đục khơi trong. Khi người dân với thái độ yêu mến, sẵn sàng khuếch trương các sản phẩm văn hóa, bảo vệ thị trường văn hóa trong nước để các nghệ sĩ và doanh nghiệp yên tâm sáng tạo và học hỏi, chắc chắn con đường phát triển công nghiệp văn hóa sẽ có nhiều thuận lợi.

Như vậy có thể nói, thay đổi nhận thức đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển công nghiệp văn hóa. Bởi vì chỉ có thay đổi nhận thức mới dẫn đến thay đổi hành động, thay đổi thái độ ứng xử trong toàn xã hội đối với văn hóa. Muốn như vậy, bên cạnh các giải pháp về mặt cơ chế, chính sách pháp luật, tạo dựng môi trường thuận lợi, cần tuyên truyền mạnh mẽ trong nhân dân từ các cấp quản lý đến các doanh nghiệp, văn nghệ sĩ và công chúng về vai trò của văn hóa trong giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân, cũng như đóng góp to lớn của văn hóa vào nền kinh tế đất nước ■

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 7/2/2023.

Có thể bạn quan tâm

Người dân và du khách tham quan Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. (Ảnh: THÀNH NAM)

Giữ tình yêu Tổ quốc luôn trong sáng

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước luôn là giá trị tinh thần bền vững, được vun đắp và trao truyền qua nhiều thế hệ, trở thành nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt, đoàn kết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ gìn bản sắc văn hóa và chung tay xây dựng đất nước.

Khách tham quan triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Tạo chuyển biến trong học tập và thực hành theo Bác

Lịch sử phát triển của các dân tộc cho thấy, không có quốc gia nào trở nên hùng cường chỉ nhờ vào vị trí chiến lược, nguồn tài nguyên, vốn đầu tư hay công nghệ. Những yếu tố ấy rất quan trọng, nhưng suy cho cùng đều phải được tạo ra, vận hành và phát huy bởi con người.

Tiết mục tham gia vòng chung khảo Hội thi báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật giỏi trong lực lượng Công an cơ sở năm 2026 do Công an tỉnh Thanh Hóa tổ chức.

Giữ vững trận địa tư tưởng từ cơ sở

Các cuộc thi tuyên truyền viên cơ sở được tổ chức thời gian qua tại nhiều địa phương, đơn vị đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên, đoàn viên tham gia, tạo hiệu ứng xã hội tích cực, góp phần đổi mới phương thức tuyên truyền, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với nhân dân.

Hội thảo “Hoàn thiện chính sách và khuôn khổ pháp lý cho phát triển công nghệ số ở Việt Nam”.

Trách nhiệm của nền tảng mạng xã hội

Bên cạnh những tiện ích và giá trị tích cực không thể phủ nhận, không gian mạng đang phải đối mặt với sự gia tăng của nhiều nội dung độc hại, lệch chuẩn, thậm chí vi phạm pháp luật, gây những hệ lụy đáng lo ngại đối với đời sống xã hội.

Cán bộ Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Công an Hà Nội) xử lý thông tin liên quan hành vi lừa đảo trên không gian mạng. (Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG)

Xây dựng môi trường mạng văn minh, có trách nhiệm

Sau khi Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin được Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ 1/7/2026, trên không gian mạng đã xuất hiện một số thông tin không chính xác về nội dung Nghị định. 

Các chương trình mang đậm bản sắc văn hóa luôn thu hút đông đảo người xem trên nền tảng số. (Ảnh: KHÁNH AN)

Kiến tạo bản sắc và chủ quyền văn hóa Việt Nam trên không gian số

Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong bốn khoảng trống lớn sau thời gian thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW đó là “sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số”.

Cơ chế phân cấp, phân quyền giúp phường Thanh Xuân chủ động đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng đường Vành đai 2,5. (Ảnh: MINH QUỐC HƯNG)

Đổi mới quản trị quốc gia trong điều kiện phát triển mới

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền là yêu cầu khách quan của đổi mới quản trị quốc gia nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn những cách hiểu phiến diện khi hoặc tuyệt đối hóa quản lý tập trung, hoặc đồng nhất phân quyền với buông lỏng quản lý, phân tán quyền lực...

Đưa bản sắc vào "kể chuyện" trong nghệ thuật biểu diễn là một hướng đi của công nghiệp văn hóa. (Ảnh: QUANG HƯNG)

Bài 2: Xây dựng thương hiệu, tăng sức cạnh tranh

Bước vào thế kỷ XXI, khi toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ số làm thay đổi sâu sắc cách thức các quốc gia cạnh tranh và khẳng định vị thế, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược.

Công an tỉnh Quảng Ninh làm việc với chủ tài khoản Facebook có hành vi chia sẻ, bình luận bài viết trên các kênh của đối tượng phản động Lê Trung Khoa, trang "thoibao.de"…

Kiên quyết ngăn chặn các hành vi lợi dụng không gian mạng để chống phá

Trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ số và mạng xã hội, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng để giao lưu, trao đổi thông tin, đồng thời cũng là địa bàn để các thế lực chống phá tiến hành nhiều hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cần nâng cao ý thức khi sử dụng mạng xã hội. (Ảnh minh họa)

Trách nhiệm pháp lý trong không gian mạng

Trong “thế giới phẳng”, một bài viết đăng tại Đức có thể gây tác động tại Việt Nam; một video phát từ Mỹ có thể lan truyền trong cộng đồng người Việt toàn cầu; một livestream từ Canada có thể tạo tranh cãi trong nước chỉ sau vài phút. Công nghệ dường như làm mờ ranh giới địa lý, nhưng không cho phép xóa bỏ trách nhiệm pháp lý.

Đảng ủy Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức hội nghị triển khai công tác đánh giá, xếp loại chất lượng hằng quý năm 2026 và các năm tiếp theo đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Đánh giá hiệu quả để sàng lọc thực chất

Ngày 22/5/2026, Ban Tổ chức Trung ương ban hành Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW về đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, trong đó yêu cầu thực hiện ngay việc thay thế những cán bộ có kết quả đánh giá “không hoàn thành nhiệm vụ” từ hai quý liên tiếp trở lên.

Chiều 14/12/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong ảnh: Bị cáo Phạm Thị Đoan Trang nghe Thẩm phán, Chủ tọa Phiên tòa tuyên án. (Ảnh: TTXVN)

Một góc nhìn thiên lệch và thiếu thiện chí

Ngày 12/5/2026, PEN America (Văn bút Hoa Kỳ) công bố báo cáo “Freedom to Write Index 2025” (Chỉ số tự do viết 2025), xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia “giam giữ nhiều nhà văn nhất thế giới”, kèm hàng loạt nhận định mang tính áp đặt như “đàn áp tự do biểu đạt”, “bóp nghẹt tiếng nói phản biện”, “bỏ tù người cầm bút”.