Theo đó, cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, tiêu dùng trong nước và du lịch tăng khá; khách quốc tế đến nước ta đạt mức tăng cao.
Đặc biệt, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế với mức tăng trưởng ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu trong nước và tăng cường xuất khẩu; sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực; hoạt động xuất, nhập khẩu duy trì đà tăng nhờ tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; đời sống nhân dân từng bước được nâng lên; an sinh xã hội được quan tâm và thực hiện thiết thực, hiệu quả.
Bảo đảm an toàn tín dụng, bảo hiểm và chứng khoán
Theo Báo cáo thống kê kinh tế-xã hội quý II và 6 tháng đầu 2026 của Cục Thống kê, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, hài hòa với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng; thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định; thị trường chứng khoán hoạt động ổn định với tổng mức huy động vốn tăng 45,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Tính đến thời điểm 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41%. Mặt bằng lãi suất huy động duy trì xu hướng giảm.
Trong tháng 5/2026, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,1%-4,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,9%-7,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,7%-7,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 7,1%-7,6%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng.
Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,0%-10,1%/năm.
Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (4%/năm).
Tỷ giá được điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Về tín dụng chính sách xã hội, đến ngày 30/6/2026, tổng số vốn giải ngân các chương trình tín dụng chính sách xã hội ước đạt 92.739 tỷ đồng, với hơn 1.263 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn từ đầu năm. Tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt 454.370 tỷ đồng, tăng 9,9% so với năm 2025 với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác đang còn dư nợ.
Thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ phục hồi thận trọng khi bước vào giai đoạn tái cơ cấu nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng nhờ sự thúc đẩy từ nhóm bảo hiểm tài sản kỹ thuật.
Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý II/2026 ước đạt 60,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%, trong đó doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 68,8 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5%; bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 49,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%. Chi trả quyền lợi bảo hiểm sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 52,3 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2025; tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 1.020,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3%; tổng tài sản thị trường bảo hiểm ước đạt 1.187,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7%; tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng 8,7%.
Trên thị trường chứng khoán, hoạt động giao dịch trong sáu tháng đầu năm 2026 tương đối ổn định nhờ kinh tế tăng trưởng khá, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện, cải cách về chính sách cùng với việc nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp đã tạo thêm động lực thu hút dòng vốn và mở rộng cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp. Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán (chưa bao gồm vốn chào bán trái phiếu riêng lẻ) sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 173.753 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 30/6/2026, chỉ số VNIndex đạt 1.860,01 điểm, tăng 4,23% so với cuối năm 2025; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 10.572,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%.
Giá trị giao dịch bình quân tháng Sáu đạt 19.982 tỷ đồng/phiên, giảm 23,7% so với bình quân tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân đạt 29.314,7 tỷ đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.
Tính đến cuối tháng Sáu, thị trường cổ phiếu có 725 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 825 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 2.847 nghìn tỷ đồng, tăng 5,0% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch bình quân tháng Sáu đạt 17.611 tỷ đồng/phiên, tăng 17,7% so với bình quân tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân đạt 17.072 tỷ đồng/phiên, tăng 11,5% so với bình quân năm 2025.
Tính đến cuối tháng 6, thị trường trái phiếu có 483 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 2.841 nghìn tỷ đồng, tăng 7,0% so với bình quân năm 2025.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, tính từ đầu năm đến nay, khối lượng giao dịch bình quân đạt 241.454 hợp đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.
Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng Năm đạt 13,16 triệu tài khoản, tăng 10,8% so với cuối năm 2025.
Đồng bộ nhóm giải pháp bảo đảm tốc độ phát triển nửa cuối 2026
Nhận định, trong sáu tháng cuối năm 2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn nên chịu tác động không nhỏ từ các biến động về kinh tế, chính trị, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, của Chính phủ, doanh nghiệp, nhân dân cả nước và sự ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè quốc tế.
Theo Cục trưởng Nguyễn Thị Hương, các ngành, các cấp, địa phương tăng cường cập nhật, dự báo tình hình, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của nhân dân.
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới (xung đột Trung Đông, giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá...), kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát. Quản lý giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng Nhà nước quản lý để giảm áp lực lạm phát.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; đồng thời đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục, khơi thông nguồn cung vật liệu và thúc đẩy giải ngân đầu tư công; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Bốn là, tiếp tục triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển logistics, giảm chi phí; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
Sáu là, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Bảy là, tăng cường phòng, chống dịch bệnh và chủ động ứng phó thiên tai. Triển khai hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch, bệnh; chủ động ứng phó mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn; bảo đảm sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân.