Những khoảng trống tạo nên lực đẩy

Khoảng cách thu nhập là nguyên nhân dễ thấy, song điều người trẻ tìm kiếm còn là việc làm có triển vọng, môi trường đô thị và một hệ sinh thái đủ rộng cho tương lai.

Cơ hội phát triển nghề nghiệp là yếu tố có ý nghĩa lớn trong lựa chọn của lao động trẻ. Ảnh: Nam Hải
Cơ hội phát triển nghề nghiệp là yếu tố có ý nghĩa lớn trong lựa chọn của lao động trẻ. Ảnh: Nam Hải

Báo cáo “Ở lại hay di cư: Cuộc sống vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố cuối năm 2025 cho biết, gần 1,7 triệu người đã rời Đồng bằng sông Cửu Long trong một thập niên. Khoảng 14% số hộ được khảo sát có ít nhất một thành viên di cư, phần lớn ra đi để tìm việc làm.

Khoảng trống doanh nghiệp và đô thị

Dòng người ấy chủ yếu hướng về Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp vùng Đông Nam Bộ . Đây không phải lựa chọn khó lý giải. Theo Niên giám Thống kê 2024, thu nhập bình quân đầu người tại Đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 4,75 triệu đồng/tháng, trong khi Đông Nam Bộ đạt gần 7,08 triệu đồng. Như vậy, mức thu nhập tại Đông Nam Bộ cao hơn gần 49%. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào tiền lương, bức tranh vẫn chưa đầy đủ. Người trẻ không chỉ so sánh số tiền nhận được trong tháng mà còn cân nhắc khả năng về chất lượng cuộc sống.

Thực tế, Đồng bằng sông Cửu Long không thiếu những địa phương có năng lực điều hành tốt. Trong bảng xếp hạng PCI 2025 An Giang xếp thứ 6; Cà Mau, Đồng Tháp, Cần Thơ… cũng thuộc nhóm các địa phương được đánh giá cao trong những năm trước đó. Điều đó cho thấy chính quyền nhiều địa phương đã có những chuyển biến rõ rệt về môi trường kinh doanh.

Tuy nhiên, cải thiện thủ tục hành chính chưa đủ để hình thành một thị trường lao động năng động nếu thiếu doanh nghiệp lớn, hạ tầng kết nối và các ngành có giá trị gia tăng cao. Bức tranh chung của vùng Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là "vùng trũng" về thu hút FDI. Theo báo cáo kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 (công bố ngày 28/5/2026), toàn vùng trong năm qua chỉ thu hút chưa tới 1 tỷ USD vốn FDI, chiếm 2,45% tổng vốn đăng ký cả nước.

TS Vũ Trung Kiên, Viện trưởng Chiến lược Công nghệ và Đổi mới Sáng tạo cho biết, nếu tính bình quân đầu người trong sáu vùng kinh tế - xã hội, vùng Đồng bằng sông Cửu Long hạ tầng còn yếu, năng suất trì trệ và cơ hội việc làm suy giảm. Giai đoạn 2021-2023, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vào vùng chỉ chiếm 11,2% cả nước, thấp hơn tỷ trọng đóng góp của vùng vào GDP.

Sự chậm phát triển của các đô thị càng làm khoảng cách cơ hội thêm rõ nét. Năm 2022, tỷ lệ đô thị hóa của Đồng bằng sông Cửu Long mới đạt khoảng 27%, so với 37% của cả nước và 66% tại Đông Nam Bộ. Gần 3/4 dân số vùng vẫn sống ở nông thôn.

Biến đổi khí hậu là “lực đẩy” ngày càng mạnh

Khí hậu không phải nguyên nhân duy nhất nhưng đang làm những hạn chế kinh tế trở nên gay gắt hơn. Hạn hán, xâm nhập mặn, lũ cực đoan và sạt lở làm thu nhập nông nghiệp biến động, tăng chi phí sản xuất và thu hẹp khả năng tích lũy của các hộ gia đình. WB ghi nhận tỷ lệ di cư của Đồng bằng sông Cửu Long tăng đáng kể sau đợt hạn hán nghiêm trọng năm 2016.

Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào cho rằng, đầu tư công phải đồng thời bảo vệ đất đai, hạ tầng thiết yếu và trang bị cho người dân kỹ năng, khả năng chống chịu để nắm bắt cơ hội trong một tương lai phải liên tục thích ứng.

Di cư là một phần tự nhiên của quá trình phát triển và có thể giúp người lao động nâng cao thu nhập, kỹ năng. Vấn đề đáng lo là vùng chỉ đưa người đi mà không tạo được dòng quay trở về của tri thức, vốn và năng lực kinh doanh.

Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2026 đã đặt trọng tâm vào các hành lang đô thị - dịch vụ - công nghiệp, phát triển trung tâm vùng và đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu thị trường. Đây là hướng đi cần thiết, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng số doanh nghiệp thật sự đầu tư, số việc làm có năng suất cao được tạo ra và khả năng tiếp cận giáo dục, y tế của người dân.

Một miền đất trù phú không thể chỉ giàu về sản lượng. Muốn người trẻ lựa chọn ở lại hoặc trở về, Đồng bằng sông Cửu Long phải trở thành nơi họ có thể nhìn thấy tương lai nghề nghiệp của mình. Khi cấu trúc cơ hội thay đổi, khoảng cách địa lý với Đông Nam Bộ sẽ không còn mặc nhiên trở thành khoảng cách của những giấc mơ.

Có thể bạn quan tâm

Cơ hội giữ chân người trẻ có thể được tạo nên từ chính việc gia tăng giá trị cho những sản phẩm đặc trưng của vùng đất trù phú này. Ảnh: Nam Anh

Câu hỏi cần lời giải

Ở nhiều làng quê miền tây, dòng chảy di cư kéo dài nhiều năm đang để lại một khoảng trống ít được nhìn thấy: Chăm sóc trong gia đình, nhân lực trong cộng đồng và cho nền nông nghiệp tương lai.

Khu sơ chế dừa của BEINCO.

Đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ

Nhiều năm qua, khi nói đến ngành dừa Việt Nam, người ta thường nhắc đến những con số tăng trưởng xuất khẩu hay những thời điểm giá dừa lập kỷ lục. Nhưng với ông Trần Văn Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre (BEINCO), điều đáng quan tâm hơn là làm thế nào để cây dừa thật sự trở thành sinh kế bền vững cho người nông dân.

Mặt bằng giá ổn định là nền tảng để ngành dừa xây chuỗi giá trị bền vững.

Cần cơ chế chia sẻ cả lợi ích lẫn rủi ro

Chỉ trong hơn một năm, thị trường dừa Việt Nam đã đi qua hai thái cực trái ngược. Năm 2025, giá dừa liên tục lập kỷ lục, trở thành một trong những ngành hàng nông sản tăng trưởng ấn tượng nhất. Thế nhưng hiện nay, giá dừa lao dốc, nhiều nhà vườn bán không đủ bù chi phí, thậm chí để dừa nảy mầm dưới gốc vì không có người mua.

Tỉnh Vĩnh Long đang tập trung xây dựng vùng nguyên liệu dừa hữu cơ.

Hoàn thiện chuỗi giá trị

Vượt mốc xuất khẩu 1 tỷ USD, ngành dừa Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt phá nhưng cũng đối mặt không ít thách thức về biến động giá, liên kết chuỗi và chất lượng vùng nguyên liệu. Làm gì để phát triển bền vững? Lời giải không chỉ nằm ở tăng trưởng xuất khẩu, mà ở việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đẩy mạnh chế biến sâu, phát triển thương hiệu và hoàn thiện chuỗi giá trị đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Để triển khai Đề án hiệu quả cần tiếp tục đào tạo nâng cao năng lực cho các tổ khuyến nông cộng đồng, hợp tác xã và tổ hợp tác. Ảnh: Trung tâm KNQG

Những bước đi vững chắc

Những ngày đầu tháng 5/2026, nông dân tại xã Hưng Mỹ (tỉnh Vĩnh Long) đang mải miết thu hoạch những khoảnh ruộng cuối cùng của vụ đông - xuân.

Hạ tầng thủy lợi là yếu tố căn bản, then chốt để thực hiện hiệu quả các biện pháp canh tác giảm phát thải. Ảnh: Tạ Quang

Tháo gỡ những “nút thắt”

Sau hơn hai năm triển khai, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đã cho thấy những kết quả tích cực. Nhưng để đề án thật sự đạt mục tiêu, vẫn còn nhiều “nút thắt” cần giải pháp tháo gỡ.

Thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Bàu Môn (An Giang) thu hoạch lúa.

Bài toán lợi ích vẫn cần thêm dữ liệu

Sau nhiều năm quen với tư duy “trúng mùa là được”, người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long giờ phải học thêm cách ghi nhật ký điện tử, giảm giống gieo sạ, tiết kiệm nước. Nhưng điều họ vẫn chưa nhìn thấy rõ nhất là: hạt gạo “xanh” sẽ bán được giá cao hơn bao nhiêu.

Kiểm tra giống cá tra tại Công ty cổ phần Cá tra Việt - Úc An Giang. Ảnh : VĂN PHÔ

Chu kỳ phát triển mới

Đồng bằng sông Cửu Long với vai trò “vựa thủy sản” của cả nước đang đứng trước bài toán vừa phải nâng cao giá trị của ngành, vừa phải chống chọi lại sự khắc nghiệt của biến đổi khí hậu.

Người dân Cà Mau thu hoạch tôm thẻ siêu thâm canh. Ảnh: Báo Cà Mau

Chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”

Trong danh mục nông sản xuất khẩu của Việt Nam, cá tra là sản phẩm chiến lược. Bước sang năm 2026, lĩnh vực này đang đứng trước ngưỡng chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”, lấy chất lượng, an toàn thực phẩm, uy tín và tính bền vững làm nền tảng.

Thu hoạch cá rô phi nuôi ở thành phố Cần Thơ. Ảnh: Tích Chu

Hướng đi nhiều tiềm năng

Trong bối cảnh thị trường thủy sản biến động, cá rô phi đang được xem là hướng đi mới giúp đa dạng hóa đối tượng nuôi và mở rộng dư địa xuất khẩu cho miền sông nước.

Đo cảm biến IoT năng lượng mặt trời giám sát mực nước, độ mặn ở Cà Mau.

“Phù sa mới” cho Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL đang đối diện nghịch lý sông rạch dày đặc nhưng mùa khô vẫn thiếu nước sinh hoạt. Khi giải pháp công trình truyền thống dần bộc lộ giới hạn, khoa học dữ liệu và hợp tác quốc tế được kỳ vọng tạo “phù sa mới”, mở lối thích ứng bền vững cho hơn 19 triệu dân vùng châu thổ.

Lãnh đạo Báo Nhân Dân chụp ảnh lưu niệm trong một lần tặng quà hỗ trợ xây dựng nhà “Đại đoàn kết” khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: BÁ DŨNG

Cần giải pháp đa tầng

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long - “vựa lúa, vựa trái cây và thủy sản” lớn nhất cả nước - không chỉ là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, đây còn là tâm điểm của các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác giảm nghèo bền vững trong bối cảnh chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Nông dân xã Bình Phước, tỉnh Vĩnh Long thu hoạch khoai mỡ. Ảnh: Bá Dũng

Hợp lực: Nhà nước, người dân & doanh nghiệp

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ kinh phí, Vĩnh Long đã khơi dậy sức mạnh nội lực từ sự hợp lực của cả hệ thống chính trị, ý chí vươn lên của chính người dân, doanh nghiệp - tạo nên một hành trình giảm nghèo đầy nhân văn và bền vững.

Rác, bèo trôi nổi trên sông Cần Thơ. Ảnh: Hải Nam

Khi sinh kế bị đe dọa

Cứ vào mùa nước nổi, trên các tuyến sông Hậu, sông Tiền, cảnh rác thải trôi ken đặc lại trở thành hình ảnh gây nhức nhối. Tại Cần Thơ, Vĩnh Long hay An Giang, từng mảng rác bị gió và dòng chảy dồn lại, mắc vào gầm cầu, tràn kín các bãi bồi ven sông.

UBND phường Xuân Khánh tổ chức ra quân thu gom rác tại rạch Tham Tướng. Ảnh UBND phường cung cấp.

Nhân rộng sáng kiến cộng đồng

Rác thải sinh hoạt, bao nylon và xốp ngập kênh rạch ở nhiều địa phương khiến môi trường sống bị đe dọa. Trước thực trạng này, các mô hình cộng đồng xử lý rác đang phát huy hiệu quả, nâng cao ý thức người dân và góp phần làm miền Tây xanh hơn.

Các loại vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt tại vườn. Ảnh: Nam Anh

Rác thải nông nghiệp bị coi nhẹ

Mỗi cuối vụ, không khó để bắt gặp hình ảnh nhiều cánh đồng miền Tây đầy rẫy bao nilon, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật và bạt ao tôm trôi dạt xuống mương. Dù chiếm 10–15% tổng lượng rác, rác nông nghiệp vẫn bị xem nhẹ, tạo khoảng trống lớn trong quản lý và xử lý chất thải ở vùng sản xuất trọng điểm này.