Chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”

Trong danh mục nông sản xuất khẩu của Việt Nam, cá tra là sản phẩm chiến lược. Bước sang năm 2026, lĩnh vực này đang đứng trước ngưỡng chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”, lấy chất lượng, an toàn thực phẩm, uy tín và tính bền vững làm nền tảng.

Người dân Cà Mau thu hoạch tôm thẻ siêu thâm canh. Ảnh: Báo Cà Mau
Người dân Cà Mau thu hoạch tôm thẻ siêu thâm canh. Ảnh: Báo Cà Mau

Đồng bằng sông Cửu Long hiện duy trì ổn định diện tích nuôi khoảng hơn 6.000 ha, tập trung tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Vĩnh Long. Năm 2025, sản lượng toàn ngành ước đạt 1,67 triệu tấn, ghi nhận cột mốc lịch sử khi kim ngạch xuất khẩu cá tra vượt ngưỡng 2,2 tỷ USD, tăng 8% so năm 2024. Không chỉ dừng ở phi lê đông lạnh, tỷ trọng các sản phẩm qua chế biến, có giá trị gia tăng cao sang thị trường Mỹ tăng đột biến 21 lần so cùng kỳ năm trước.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025, Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực của ngành cá tra với 27% thị phần. Khối Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trở thành điểm sáng với mức tăng trưởng 17%, đạt 340 triệu USD, trong đó các thị trường Mexico và Malaysia tăng trưởng mạnh. EU duy trì ổn định ở mức 8%. Đáng chú ý, thị trường Nga và khối Á - Âu tăng trưởng tới 35%, mở ra dư địa khai thác mới. Dự báo năm 2026, xuất khẩu cá tra có thể đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 5% so năm 2025.

Dù đang phục hồi tích cực để tiến gần “thời hoàng kim” của sáu, bảy năm trước, ngành hàng cá tra vẫn còn những khó khăn nhất định. Nghề nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh từ biến đổi khí hậu, chất lượng nước kém và xâm nhập mặn. Chất lượng con giống chưa bảo đảm khiến tỷ lệ sống thấp. Công tác kiểm soát kháng sinh và dịch bệnh chưa bền vững, chi phí sản xuất gần đây tăng lên 1,2-1,3 USD/kg, làm giảm sức cạnh tranh.

Bước sang năm 2026, mức thuế đối ứng 20% tại thị trường Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục gây tác động bất lợi, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm cá tra Việt Nam. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các quốc gia như Bangladesh, Indonesia và Trung Quốc gây áp lực lớn với doanh nghiệp xuất khẩu cá tra. Thách thức từ rào cản kỹ thuật như địa điểm nhận hàng, đạo luật nông trại và quy định về lao động, môi trường, tín chỉ xanh cũng ngày càng khắt khe.

Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường nhìn nhận, xuất khẩu thủy sản, trong đó có cá tra vẫn chưa tạo được đột phá tương xứng tiềm năng. Ông Tiến cho rằng, năm 2026, ngành hàng cá tra đứng trước yêu cầu chuyển dịch căn bản từ tư duy tăng sản lượng sang tư duy giá trị, hiệu quả và bền vững. Việc giải quyết điểm nghẽn về con giống, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, nâng cao chất lượng, giảm phát thải và chủ động thích ứng các tiêu chuẩn quốc tế được coi là nền tảng để ngành hàng cá tra Việt Nam nâng cao thương hiệu, khẳng định vị thế trên bản đồ thủy sản toàn cầu.

vi-03365.jpg
Chế biến hải sản xuất khẩu. Ảnh: Hải Nam

Hiện nay, triển vọng tăng trưởng của ngành cá tra đang chịu tác động do bất ổn địa chính trị tại Trung Đông. Trong bối cảnh nhiều tuyến vận tải biển quan trọng bị gián đoạn, chi phí vận chuyển mỗi container lạnh có thể tăng thêm 2.000-4.000 USD. Ngoài chi phí vận tải, doanh nghiệp còn phải gánh thêm nhiều loại phụ phí như phụ phí nhiên liệu và phí rủi ro chiến tranh.

Có thể bạn quan tâm

Kiểm tra giống cá tra tại Công ty cổ phần Cá tra Việt - Úc An Giang. Ảnh : VĂN PHÔ

Chu kỳ phát triển mới

Đồng bằng sông Cửu Long với vai trò “vựa thủy sản” của cả nước đang đứng trước bài toán vừa phải nâng cao giá trị của ngành, vừa phải chống chọi lại sự khắc nghiệt của biến đổi khí hậu.

Thu hoạch cá rô phi nuôi ở thành phố Cần Thơ. Ảnh: Tích Chu

Hướng đi nhiều tiềm năng

Trong bối cảnh thị trường thủy sản biến động, cá rô phi đang được xem là hướng đi mới giúp đa dạng hóa đối tượng nuôi và mở rộng dư địa xuất khẩu cho miền sông nước.

Đo cảm biến IoT năng lượng mặt trời giám sát mực nước, độ mặn ở Cà Mau.

“Phù sa mới” cho Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL đang đối diện nghịch lý sông rạch dày đặc nhưng mùa khô vẫn thiếu nước sinh hoạt. Khi giải pháp công trình truyền thống dần bộc lộ giới hạn, khoa học dữ liệu và hợp tác quốc tế được kỳ vọng tạo “phù sa mới”, mở lối thích ứng bền vững cho hơn 19 triệu dân vùng châu thổ.

Lãnh đạo Báo Nhân Dân chụp ảnh lưu niệm trong một lần tặng quà hỗ trợ xây dựng nhà “Đại đoàn kết” khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: BÁ DŨNG

Cần giải pháp đa tầng

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long - “vựa lúa, vựa trái cây và thủy sản” lớn nhất cả nước - không chỉ là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, đây còn là tâm điểm của các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác giảm nghèo bền vững trong bối cảnh chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Nông dân xã Bình Phước, tỉnh Vĩnh Long thu hoạch khoai mỡ. Ảnh: Bá Dũng

Hợp lực: Nhà nước, người dân & doanh nghiệp

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ kinh phí, Vĩnh Long đã khơi dậy sức mạnh nội lực từ sự hợp lực của cả hệ thống chính trị, ý chí vươn lên của chính người dân, doanh nghiệp - tạo nên một hành trình giảm nghèo đầy nhân văn và bền vững.

Rác, bèo trôi nổi trên sông Cần Thơ. Ảnh: Hải Nam

Khi sinh kế bị đe dọa

Cứ vào mùa nước nổi, trên các tuyến sông Hậu, sông Tiền, cảnh rác thải trôi ken đặc lại trở thành hình ảnh gây nhức nhối. Tại Cần Thơ, Vĩnh Long hay An Giang, từng mảng rác bị gió và dòng chảy dồn lại, mắc vào gầm cầu, tràn kín các bãi bồi ven sông.

UBND phường Xuân Khánh tổ chức ra quân thu gom rác tại rạch Tham Tướng. Ảnh UBND phường cung cấp.

Nhân rộng sáng kiến cộng đồng

Rác thải sinh hoạt, bao nylon và xốp ngập kênh rạch ở nhiều địa phương khiến môi trường sống bị đe dọa. Trước thực trạng này, các mô hình cộng đồng xử lý rác đang phát huy hiệu quả, nâng cao ý thức người dân và góp phần làm miền Tây xanh hơn.

Các loại vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt tại vườn. Ảnh: Nam Anh

Rác thải nông nghiệp bị coi nhẹ

Mỗi cuối vụ, không khó để bắt gặp hình ảnh nhiều cánh đồng miền Tây đầy rẫy bao nilon, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật và bạt ao tôm trôi dạt xuống mương. Dù chiếm 10–15% tổng lượng rác, rác nông nghiệp vẫn bị xem nhẹ, tạo khoảng trống lớn trong quản lý và xử lý chất thải ở vùng sản xuất trọng điểm này.