Cần cơ chế chia sẻ cả lợi ích lẫn rủi ro

Chỉ trong hơn một năm, thị trường dừa Việt Nam đã đi qua hai thái cực trái ngược. Năm 2025, giá dừa liên tục lập kỷ lục, trở thành một trong những ngành hàng nông sản tăng trưởng ấn tượng nhất. Thế nhưng hiện nay, giá dừa lao dốc, nhiều nhà vườn bán không đủ bù chi phí, thậm chí để dừa nảy mầm dưới gốc vì không có người mua.

Mặt bằng giá ổn định là nền tảng để ngành dừa xây chuỗi giá trị bền vững.
Mặt bằng giá ổn định là nền tảng để ngành dừa xây chuỗi giá trị bền vững.

Biến động ấy không đơn thuần là quy luật cung - cầu, mà phản ánh thực trạng của một ngành hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD nhưng vẫn thiếu nền tảng phát triển bền vững. Năm 2025 từng được xem là "năm vàng" của ngành khi giá dừa tăng mạnh, có thời điểm dừa tươi đạt gần 200 nghìn đồng/chục, dừa khô hơn 220 nghìn đồng/chục. Giá cao, người nông dân hưởng lợi nhưng lại khiến nhiều doanh nghiệp chế biến đối mặt áp lực thiếu nguyên liệu, chi phí đầu vào tăng đột biến, hợp đồng xuất khẩu đứng trước nguy cơ thua lỗ. Đến năm 2026, thị trường đảo chiều, giá dừa khô chỉ còn khoảng 40 nghìn đồng/ chục, dừa tươi khoảng 50 nghìn đồng/chục. Sức mua giảm, thương lái hạn chế thu mua, người trồng dừa lại trở thành đối tượng gánh chịu nhiều rủi ro nhất.

Điều đáng suy nghĩ là ở cả hai thái cực, chuỗi giá trị đều bộc lộ những khoảng trống. Khi giá tăng, doanh nghiệp thiếu nguyên liệu; khi giá giảm, nông dân mất thu nhập, còn doanh nghiệp cũng không thể ngay lập tức mở rộng sản xuất vì nhu cầu thị trường không tăng tương ứng. Chuỗi cung ứng vận hành theo những biến động ngắn hạn thay vì được liên kết bằng các cam kết dài hạn và cơ chế chia sẻ lợi ích. Nghịch lý ấy cho thấy Việt Nam chưa thật sự xây dựng được một nền kinh tế dừa.

Thực tế, từ nước dừa, cơm dừa, dầu dừa cho đến xơ dừa, đọt dừa... đều có thể tạo ra giá trị gia tăng cao nếu được đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu. Đây mới là dư địa để ngành dừa nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm phụ thuộc vào những biến động của thị trường. Muốn vậy, trước hết cần tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Các hợp đồng bao tiêu phải trở thành cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro, thay vì chỉ phát huy tác dụng khi thị trường thuận lợi. Song song với đó là đẩy mạnh chế biến sâu, mở rộng thị trường cho các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phát triển vùng trồng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Quan trọng hơn, ngành dừa cần chuyển từ tư duy chạy theo giá sang tư duy phát triển chuỗi giá trị. Mục tiêu không phải là tạo ra những đợt tăng giá kỷ lục, mà là duy trì một mặt bằng giá ổn định để người trồng có lợi nhuận hợp lý, doanh nghiệp có đủ nguyên liệu đầu tư dài hạn và thị trường có nguồn cung bền vững.

Giá dừa sẽ còn tăng giảm theo quy luật thị trường. Nhưng nếu mỗi chu kỳ biến động vẫn khiến nông dân thấp thỏm, doanh nghiệp bị động và chuỗi cung ứng liên tục đứt gãy, thì kim ngạch tỷ USD cũng khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thật sự. Chỉ khi vùng nguyên liệu, chế biến, thị trường và thương hiệu được kết nối trong một chuỗi giá trị thống nhất, dừa Việt Nam mới có thể bước ra thế giới theo cách của một ngành kinh tế hiện đại.

Có thể bạn quan tâm

Để triển khai Đề án hiệu quả cần tiếp tục đào tạo nâng cao năng lực cho các tổ khuyến nông cộng đồng, hợp tác xã và tổ hợp tác. Ảnh: Trung tâm KNQG

Những bước đi vững chắc

Những ngày đầu tháng 5/2026, nông dân tại xã Hưng Mỹ (tỉnh Vĩnh Long) đang mải miết thu hoạch những khoảnh ruộng cuối cùng của vụ đông - xuân.

Hạ tầng thủy lợi là yếu tố căn bản, then chốt để thực hiện hiệu quả các biện pháp canh tác giảm phát thải. Ảnh: Tạ Quang

Tháo gỡ những “nút thắt”

Sau hơn hai năm triển khai, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đã cho thấy những kết quả tích cực. Nhưng để đề án thật sự đạt mục tiêu, vẫn còn nhiều “nút thắt” cần giải pháp tháo gỡ.

Thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Bàu Môn (An Giang) thu hoạch lúa.

Bài toán lợi ích vẫn cần thêm dữ liệu

Sau nhiều năm quen với tư duy “trúng mùa là được”, người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long giờ phải học thêm cách ghi nhật ký điện tử, giảm giống gieo sạ, tiết kiệm nước. Nhưng điều họ vẫn chưa nhìn thấy rõ nhất là: hạt gạo “xanh” sẽ bán được giá cao hơn bao nhiêu.

Kiểm tra giống cá tra tại Công ty cổ phần Cá tra Việt - Úc An Giang. Ảnh : VĂN PHÔ

Chu kỳ phát triển mới

Đồng bằng sông Cửu Long với vai trò “vựa thủy sản” của cả nước đang đứng trước bài toán vừa phải nâng cao giá trị của ngành, vừa phải chống chọi lại sự khắc nghiệt của biến đổi khí hậu.

Người dân Cà Mau thu hoạch tôm thẻ siêu thâm canh. Ảnh: Báo Cà Mau

Chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”

Trong danh mục nông sản xuất khẩu của Việt Nam, cá tra là sản phẩm chiến lược. Bước sang năm 2026, lĩnh vực này đang đứng trước ngưỡng chuyển mạnh từ tư duy “sản lượng” sang “giá trị”, lấy chất lượng, an toàn thực phẩm, uy tín và tính bền vững làm nền tảng.

Thu hoạch cá rô phi nuôi ở thành phố Cần Thơ. Ảnh: Tích Chu

Hướng đi nhiều tiềm năng

Trong bối cảnh thị trường thủy sản biến động, cá rô phi đang được xem là hướng đi mới giúp đa dạng hóa đối tượng nuôi và mở rộng dư địa xuất khẩu cho miền sông nước.

Đo cảm biến IoT năng lượng mặt trời giám sát mực nước, độ mặn ở Cà Mau.

“Phù sa mới” cho Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL đang đối diện nghịch lý sông rạch dày đặc nhưng mùa khô vẫn thiếu nước sinh hoạt. Khi giải pháp công trình truyền thống dần bộc lộ giới hạn, khoa học dữ liệu và hợp tác quốc tế được kỳ vọng tạo “phù sa mới”, mở lối thích ứng bền vững cho hơn 19 triệu dân vùng châu thổ.

Lãnh đạo Báo Nhân Dân chụp ảnh lưu niệm trong một lần tặng quà hỗ trợ xây dựng nhà “Đại đoàn kết” khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: BÁ DŨNG

Cần giải pháp đa tầng

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long - “vựa lúa, vựa trái cây và thủy sản” lớn nhất cả nước - không chỉ là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, đây còn là tâm điểm của các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là công tác giảm nghèo bền vững trong bối cảnh chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Nông dân xã Bình Phước, tỉnh Vĩnh Long thu hoạch khoai mỡ. Ảnh: Bá Dũng

Hợp lực: Nhà nước, người dân & doanh nghiệp

Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ kinh phí, Vĩnh Long đã khơi dậy sức mạnh nội lực từ sự hợp lực của cả hệ thống chính trị, ý chí vươn lên của chính người dân, doanh nghiệp - tạo nên một hành trình giảm nghèo đầy nhân văn và bền vững.

Rác, bèo trôi nổi trên sông Cần Thơ. Ảnh: Hải Nam

Khi sinh kế bị đe dọa

Cứ vào mùa nước nổi, trên các tuyến sông Hậu, sông Tiền, cảnh rác thải trôi ken đặc lại trở thành hình ảnh gây nhức nhối. Tại Cần Thơ, Vĩnh Long hay An Giang, từng mảng rác bị gió và dòng chảy dồn lại, mắc vào gầm cầu, tràn kín các bãi bồi ven sông.

UBND phường Xuân Khánh tổ chức ra quân thu gom rác tại rạch Tham Tướng. Ảnh UBND phường cung cấp.

Nhân rộng sáng kiến cộng đồng

Rác thải sinh hoạt, bao nylon và xốp ngập kênh rạch ở nhiều địa phương khiến môi trường sống bị đe dọa. Trước thực trạng này, các mô hình cộng đồng xử lý rác đang phát huy hiệu quả, nâng cao ý thức người dân và góp phần làm miền Tây xanh hơn.

Các loại vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt tại vườn. Ảnh: Nam Anh

Rác thải nông nghiệp bị coi nhẹ

Mỗi cuối vụ, không khó để bắt gặp hình ảnh nhiều cánh đồng miền Tây đầy rẫy bao nilon, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật và bạt ao tôm trôi dạt xuống mương. Dù chiếm 10–15% tổng lượng rác, rác nông nghiệp vẫn bị xem nhẹ, tạo khoảng trống lớn trong quản lý và xử lý chất thải ở vùng sản xuất trọng điểm này.