“Nhà hộ sinh” trên nền “lò mổ”
Giữa sắc xanh của rừng già, bầu trời và biển cả, bãi rùa đẻ hiện ra với bờ cát trắng phau ôm lấy những bờ đá kỳ vĩ của vùng Núi Chúa. Từ Công viên đá Ninh Thuận (cũ), muốn xuống bãi, người ta phải xuyên rừng, vượt gần 200 bậc thang dốc đứng.
“Chính xác là 186 bậc thang”, anh Phạm Anh Dũng, Phó Trưởng phòng Quản lý tài nguyên và Dự trữ sinh quyển, Vườn quốc gia Núi Chúa, khẳng định. Người đàn ông trung niên, nước da rám nắng, không nhớ nổi đã bao nhiêu lần vượt cung đường này, bất kể ngày đêm, nắng mưa. Anh Dũng là một "bà đỡ” kỳ cựu, đã hỗ trợ hàng trăm rùa mẹ sinh sản.
Khi những tia nắng cuối ngày khuất dần sau rặng núi, công việc của những “bà đỡ” bắt đầu. Họ tỉ mỉ tuần tra bãi biển, ngăn người lạ xâm nhập, đồng thời nhặt rác do sóng biển đánh dạt vào bờ. Đó là những đêm với hàng vạn bước chân trên hơn 2 km bãi cát trắng.
Bãi rùa đẻ này có tên là Bãi Thịt. Dưới ánh đèn pin chuyên dụng đỏ leo lét, anh Dũng nhắc lại một quá khứ buồn: “Tên gọi xưa là “bãi xẻ thịt”. Sở dĩ có tên gọi ấy vì người dân từng coi rùa là lộc trời, cứ đói ăn lại tìm đến đây, lật ngửa những con rùa mẹ yếu ớt để xẻ thịt”.
Anh Nguyễn Văn Bình, tình nguyện viên người thôn Thái An, tiếp lời: “Đó là ký ức từ mấy chục năm trước, ngay thế hệ chúng tôi cũng không còn chứng kiến cảnh tượng ấy. Suốt 20 năm qua, người dân vùng này đã cùng các anh, chị ở Vườn quốc gia Núi Chúa bảo tồn rùa biển”.
Công việc của những “bà đỡ” thêm phần thú vị khi rùa lên bãi đẻ trứng. Rùa thường trở về từ tháng 4 đến tháng 11, nhưng không phải đêm nào cũng có thể gặp rùa. Khi phát hiện ổ trứng ở vị trí thấp, dễ bị nước biển cuốn trôi lúc thủy triều lên, những “bà đỡ” sẽ cẩn thận di dời từng trứng đến nơi cao ráo, an toàn. Nếu ổ trứng nằm ở vị trí phù hợp, anh Dũng ghi chép để theo dõi, chờ ngày rùa nở. “Ổ lớn nhất có thể lên đến 120 trứng, sau khoảng 45 ngày thì chúng mình sẽ lấy một tấm vải mùng ủ lại phía trên để bảo vệ trứng và rùa con khỏi các loài động vật khác”, anh Dũng chia sẻ.
Khi rùa nở, cả đội luân phiên quan sát, hỗ trợ những cá thể yếu ra mép nước để chúng dễ dàng trở về đại dương. Chỉ khi rùa con đã an toàn và bắt đầu bơi, những “bà đỡ” mới yên tâm ra về.
Năm 2025, Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận mùa sinh sản kỷ lục với 68 lượt rùa lên bãi, để lại 35 ổ trứng. Nhờ được bảo vệ ngày đêm, 2.787 rùa con đã bơi về phía biển. Nhìn lại những con số ấy, anh Phạm Anh Dũng, Phó Trưởng phòng Quản lý tài nguyên và Dự trữ sinh quyển, bày tỏ niềm tự hào: “20 năm là trọn vẹn một vòng rùa sinh ra, sinh trưởng và sinh sản. Từ thời điểm 2025 trừ đi đúng 20 năm, cũng chính là lúc chúng tôi bắt đầu bảo tồn rùa một cách bài bản. Có thể thấy, những chú rùa được sinh ra 20 năm trước từ chính bãi biển này, theo tập tính tự nhiên, đã quay trở lại và tiếp tục vòng đời. Đó là thành quả, thành tựu và niềm tự hào của anh em chúng tôi”.
Để rùa biển sinh trưởng trong vòng tay cộng đồng
Dù nỗ lực đến đâu, những cán bộ Vườn quốc gia như anh Dũng cũng khó có thể làm nên kỳ tích trên một vùng bảo tồn rộng lớn nếu thiếu sự chung tay của cộng đồng. Sự chuyển mình của “nhà hộ sinh” Bãi Thịt hôm nay bắt nguồn từ một hành trình bền bỉ.
Tình nguyện viên Nguyễn Văn Bình là minh chứng cho sự thay đổi nhận thức âm thầm diễn ra suốt hai thập kỷ qua. Ban ngày, anh chăm sóc vườn nho, làm nghề chài lưới ven bờ; khi đêm xuống, anh lại trở thành một “bà đỡ” rùa biển. “Chính chúng tôi, khi được học tập, đào tạo, đã thay đổi nhận thức và đem những kiến thức ấy lan tỏa đến hàng xóm, người thân. Dần dần việc yêu thương loài rùa nói chung và các sinh vật biển nói riêng đã ngấm vào cả cộng đồng, bởi chúng tôi hiểu việc bảo tồn chính là giữ lại sinh kế cho đời con, cháu mình”, anh Bình bộc bạch.
Nhờ những người dân như anh Bình, công tác bảo tồn của Vườn quốc gia Núi Chúa được nối dài đến cộng đồng. Những ngư dân từng coi rùa là “lộc trời” nay sẵn sàng cắt bỏ tay lưới trị giá cả triệu đồng để giải cứu rùa mắc kẹt.
Không chỉ khơi dậy tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng địa phương, “nhà hộ sinh” Núi Chúa còn thu hút những tình nguyện viên từ khắp mọi miền Tổ quốc. Mỗi năm, hàng nghìn hồ sơ đăng ký tham gia bảo tồn rùa biển được gửi về. Bên cạnh hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ rùa, các tình nguyện viên còn tham gia nhiều hoạt động hướng tới cộng đồng. Tại đây, các tình nguyện viên trẻ tìm thấy nhiều giá trị mới trong cuộc sống. Sau một tuần tham gia hoạt động tại Bãi Thịt, Nguyễn Nhàn, tình nguyện viên đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Mình sẽ nhớ những đêm trắng đón gió biển chờ rùa mẹ lên bãi đẻ, nhớ cái nắng gắt trên bãi bồi khi cùng nhau ươm từng mầm đước, nhớ cả những giờ lên lớp trao tri thức, đón nhận nụ cười trong trẻo của các em nhỏ Mỹ Hòa-Thái An”.
Cùng chung cảm xúc ấy, Ngọc Tuyền, cô gái lớn lên trên mảnh đất Ninh Thuận, chia sẻ: “Đến đây thì mong nhất là được gặp rùa, nhưng nếu không có duyên, chúng em vẫn rất vui vì đã tham gia một hành trình ý nghĩa. Quan trọng là em tin những gì đã làm sẽ góp phần giúp loài rùa và hệ sinh thái ngày càng được phục hồi, phát triển”.
Đánh giá về vai trò của hàng nghìn bạn trẻ đồng hành cùng công cuộc gìn giữ mầm sống cho đại dương, ông Phạm Văn Xiêm, Trưởng phòng Quản lý tài nguyên và Dự trữ sinh quyển (Ban Quản lý Vườn Quốc gia Núi Chúa) khẳng định: “Tham vọng sâu xa không đơn thuần là tìm kiếm nhân lực hỗ trợ, mà kỳ vọng mỗi bạn trẻ trở thành một tuyên truyền viên đắc lực. Đặc biệt, sự gắn kết này còn mang lại giá trị thiết thực khi họ trực tiếp tham gia giảng dạy tiếng Anh, tin học lồng ghép với kiến thức bảo vệ động vật hoang dã cho trẻ em địa phương trong dịp hè”.
Bãi Thịt hôm nay bình yên nhờ sự chung tay của cán bộ bảo tồn, người dân địa phương và các tình nguyện viên trẻ. Những vệt chân rùa con trên cát trắng là minh chứng cho tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo tồn của cộng đồng.