Nghị lực Võ Tòng Xuân

GS-TS Võ Tòng Xuân.
GS-TS Võ Tòng Xuân.

Tấm gương học tập của ông xứng đáng là ngọn đèn dẫn đường cho tuổi trẻ ngày nay đi đến chân trời khoa học.

Tuổi thơ nhọc nhằn

Sinh ra trong gia đình nghèo tại Ba Chúc, ngôi làng heo hút trong dãy Thất Sơn, nên tuổi thơ của cậu bé Võ Tòng Xuân gắn liền với cơ cực, thiếu thốn. Vì vậy để có thể học trung học đệ nhứt cấp (nay là THCS), chàng thanh niên xứ núi này phải lên Sài Gòn ở đậu nhà người quen và làm đủ thứ nghề nhọc nhằn mà nếu không có lòng kiên trì thì không bao giờ vượt qua được. Bởi chỉ riêng khoản “phí trọ” cũng đã đủ vắt kiệt sức.

Ngoài việc đảm trách nhiệm vụ dạy kèm con chủ nhà, dọn dẹp nhà cửa, tối phải ra ngoài ngõ giữ xe ô-tô cho chủ. Mãi đến năm lên lớp đệ tứ (lớp 9), cậu học trò Xuân mới thoát được kiếp nạn này khi được thầy Đỗ Thiếu Lăng dạy Việt văn cho về nhà ở đậu với điều kiện giúp chấm bài kiểm tra Việt văn để thầy cho điểm. Đổi lại, mỗi tuần 3 lần, Thầy dạy thêm Hán văn bằng sách Minh tâm bửu giám.

Khi vào học trường trung học Kỹ thuật Cao Thắng, do cuộc sống gia đình quá khó khăn nên hằng ngày ông phải thức từ 4 giờ sáng đến tổng phát hành báo chí nhận báo về, cùng hai đứa em kế bán báo kiếm tiền nuôi ba đứa em nhỏ.

Làm việc quá sức nên giữa năm cuối của bậc trung học, ông bị bệnh lao phổi quật liệt giường mấy tháng trời nên đã thi rớt tú tài II năm 1960. Thổ huyết mấy lần, người còm nhom, nhưng ông nhất quyết không bỏ cuộc.

Vừa khỏi bệnh, là lao ngay đi xin vào làm công nhật cho Nha Hàng không Dân sự, vẽ thiết kế các trụ phát tuyến cho sân bay Tân Sơn Nhất. Nhờ đó có thu nhập ổn định để học ôn, ông thi đỗ tú tài II kỹ thuật, đồng thời đậu luôn phần thi viết tú tài II Toán.

GS Võ Tòng Xuân khi còn làm nhân viên phát thanh chương trình
văn hóa Việt Nam tại Đài phát thanh Philippines.

Gian truân du học

Như nhiều học sinh hiếu học khác lúc ấy, ông khao khát được đi du học, vì trường đại học Việt Nam lúc ấy còn kém. Biết phận nghèo, không thể đua đòi theo con nhà giàu để có học bổng đi các quốc gia lớn như Mỹ hoặc Đức, Pháp và Anh, nên ông chỉ có một lựa chọn duy nhất là thi lấy học bổng của trường đại học ít được ai chú ý: Đại học Nông nghiệp tại Los Banos (Philippines).

Trước ngày lên đường, người cha nghèo khó phải đi “gõ cửa” nhiều người thân mới có đủ tiền mua cho con vé máy bay, đôi giày da và bộ đồ veston. Vì yêu thích kỹ thuật, nên ông đã đăng ký học ngành nông hóa, chuyên về sản xuất đường mía. Sau này có dịp tiếp xúc với anh em bên Việt Nam sang, ông mới biết mình đã chọn sai hướng khi không biết theo học về cây lúa, lĩnh vực mà đất nước đang rất cần.

Ngày nhập học, được Quỹ Rockefeller có tài trợ lại tiền vé máy bay, thay vì mua sắm, tiệc tùng, ông đánh điện tín về nhà xin phép cha cho dùng số tiền này mua một máy ảnh Pentax và một cái radio National để tập nghe, nói tiếng Anh và tập thêm một nghề kiếm cơm. Để có được nghề từ chỗ “trắng tay”, ông đã tự nguyện làm nhiếp ảnh không lương cho tờ báo hàng tuần của sinh viên trường.

Nhờ vậy mà chỉ trong thời gian ngắn, ông đã nắm vững mọi ngóc ngách của nghề ảnh, từ chụp đến tráng phim, rọi ảnh và cả những giọt nước mắt cay đắng về bài học kiếm tiền.

Có một kỷ niệm chảy nước mắt trong đời cầm máy của sinh viên Võ Tòng Xuân là được trả nhuận ảnh bằng chữ cảm ơn. Lần đó, được vị mục sư mời chụp ảnh “Lễ đón bình minh ngày Chúa Phục sinh”, 4 giờ sáng ông vác máy lên đồi, tìm góc ngắm ưng ý rồi chụp hơn 3 cuộn phim. Hôm sau, cầm ảnh đi giao và thật bất ngờ, khi xem ảnh xong, vị mục sư gật đầu hài lòng rồi nói vỏn vẹn: “Cảm ơn”.

Khi làm phóng viên không lương cho tờ “Sinh viên”, chàng Xuân xin vào phòng thí nghiệm của Bộ môn Hóa để học nghề tráng phim, phóng và rửa ảnh và sử dụng phòng tắm nhà trọ để làm “buồng tối”. Nhờ có nghề phụ này và nhuận bút viết báo mà ông có tiền học tiếp lấy bằng Master sau này. Đó là năm thứ ba đại học.

Thấy Đài Philippines phát sóng Chương trình Văn hóa nhiều nước mà không có Chương trình Việt Nam, ông viết thư hỏi thì được biết là do không có người. Chỉ chờ có vậy, ông tìm đến, xung phong nhận việc và tất nhiên là cũng với điều kiện không cần… nhuận bút. Sau thời gian học cách biên tập chương trình, cách điều khiển các bộ phận trong phòng thu thanh, ông làm rất chạy việc và được lãnh đạo Đài tự nguyện trả công rất hậu.

Năm thứ tư đại học, ông được Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines nhờ làm thông dịch cho nhóm cán bộ diệt trừ sốt rét của Việt Nam sang học “Phương pháp huấn luyện cho người học nghề” do chuyên gia Hoa kỳ huấn luyện.

Ông nhớ lại: “Công việc chiếm rất nhiều thời gian, nhưng bù lại tôi có được phương pháp luận tiên tiến về nghiên cứu khoa học”. Và cũng nhờ đó mà khi được Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thu nhận sau khi tốt nghiệp Master, ông đã dễ dàng hoàn thành quyển sách “Cẩm nang huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản” (IRRI xuất bản 1972).

Có thể nói trong suốt quãng đời du học, chàng sinh viên Xuân không để lỡ một cơ hội luyện tập tay nghề nào. Tranh thủ lúc chụp ảnh đám cưới của chị Kim Vi, một sinh viên Việt Nam lấy chồng Philippines, ông làm quen với bà Quizon, mẹ đỡ đầu của chị Kim Vi.

Là một điền chủ có nhiều ruộng lúa và vườn dừa ở tỉnh Batangas, nhưng các tá điền của bà lại rất nghèo do thiếu kỹ thuật canh tác. Thế là mỗi chủ nhật, ông đón xe đò đến, huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản, và đem hạt giống lúa mới cho họ trồng. Nhờ đó các tá điền được thu nhập cao hơn và tất nhiên là ông cũng bỏ túi nhiều kinh nghiệm quý cho công tác nghiên cứu khoa học sau này.

Tốt nghiệp đại học, dù đối mặt với muôn vàn khó khăn do bị chấm dứt học bổng, nhưng ông vẫn nhất quyết học lấy bằng Master.

Tấm lòng với quê hương

Năm 1971, vượt qua những cám dỗ vật chất, thạc sĩ Võ Tòng Xuân quyết định về nước và chọn Viện Đại học Cần Thơ làm “nhà”, với hy vọng có điều kiện nhân nhanh kiến thức nông nghiệp cho nhiều người dân. Hằng năm, ngoài công tác giảng dạy 7 môn học, ông đảm nhận hướng dẫn hơn 20 sinh viên làm công trình tốt nghiệp.

Lúc ấy ít người giỏi chịu về cái trường học mới này tại vùng quê Cần Thơ, nên thầy giáo Xuân phải tự nguyện dạy rất nhiều và hướng dẫn sinh viên nhiều như thế. Nhưng đồng lương dạy ở đại học Cần Thơ không đủ xoay xài cho đại gia đình mà thầy phải chăm nom: vợ con và gia đình ba má và các em hai bên, nên thầy phải tìm việc làm thêm.

Rất may lúc ấy Công ty hóa chất nông nghiệp Thanh Sơn liên kết với Công ty Ciba-Geigy (Thụy Sĩ) mời thầy làm cố vấn giám đốc kỹ thuật với mức lương gấp 5 lần ở đại học. Dù bận việc giảng dạy tại trường và cố vấn cho công ty, nhưng thầy vẫn luôn nghĩ đến việc học để lấy bằng tiến sĩ.

Lúc đó mỗi năm trường Cao đẳng Nông nghiệp được Nhật Bản cử giáo sư sang dạy và nghiên cứu. Trong đó có GS Jun Inouye, rất mê say cây lúa, đã cùng thầy nghiên cứu nhiều khía cạnh của các loại lúa của đồng bằng sông Cửu Long.

Kết quả nghiên cứu này được tạp chí Crop Science (Nhật Bản) cho đăng liên tiếp 3 bài. GS Inouye làm thủ tục cho thầy chọn phương án lấy bằng tiến sĩ dạng tại chức tại Đại học Kyushu. Tháng 2-1975, bảo vệ xong luận án, tiến sĩ Võ Tòng Xuân một lần nữa chọn quê hương để cống hiến.

Những năm đầu thống nhất đất nước, cuộc sống vô vàn khó khăn, nhưng ông vẫn tả xung hữu đột với công việc. Vừa đảm trách công tác quản lý, đứng lớp, hướng dẫn nghiên cứu sinh hoàn thành nhiều luận án thạc sĩ, tiến sĩ, vừa nghiên cứu nhiều giống lúa, đặc biệt là bộ giống miền tây nổi tiếng, ông còn lặn lội khắp nơi từ Đồng Tháp Mười trũng phèn đến tứ giác Long Xuyên đồng khô cỏ cháy để giúp nông dân chinh phục thiên nhiên bất chấp những bản án vô hình chụp xuống đầu mình với tội danh “phản động”.

Đến năm 2000, dù đến tuổi nghỉ hưu, nhưng ông lại tiếp tục nhận lấy trọng trách gầy dựng trường đại học cho quê hương An Giang với khát vọng được “nhân mình” ra lo cho nông dân nhiều hơn...

Không chỉ tiết kiệm tối đa các khoản chi phí mỗi chuyến công tác ra nước ngoài theo diện thỉnh giảng, hội thảo khoa học... để bù đắp cho ngân quỹ nhà trường từ 4.000-5.000 USD/năm, thầy còn mang cả món quà mà tỉnh An Giang tặng cho thầy dưỡng già giao cho tổ chức Công đoàn bán để hình thành làng đại học cho giáo viên ổn định chỗ ở, an tâm dạy học.

Giờ đây dù đã bước vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng tấm lòng với quê hương vẫn nguyên vẹn trong suy nghĩ của thầy như ngày nào: “Dù ở cương vị nào, tôi vẫn dốc toàn tâm, toàn lực chăm lo cho sự nghiệp trồng người, tạo nguồn nhân lực cho vùng sông nước cho đến khi nhắm mắt”.

GS-TS, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân Võ Tòng Xuân là nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới. Ông sinh năm 1940 tại Ba Chúc, An Giang, hiện là Hiệu trưởng Đại học An Giang, là nhà giáo, nhà khoa học nổi tiếng được nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Giải thưởng Derek Tribe về khoa học kỹ thuật 2005; Giải thưởng Nikkei Châu Á 2002 về Tăng trưởng vùng; Giải thưởng Ramon Magsaysay 1993 về Phục vụ nhà nước; Bằng tưởng lệ của Thủ tướng Canada (1995) về “Phụng sự và đóng góp vào khoa học thế giới; Huy chương “Kỵ mã Nông nghiệp của Bộ Nông-Lâm-Thuỷ sản Pháp (1996); Giải “Cựu sinh viên xuất sắc nhất” của Đại học Philippines tại Los Banos (2001), giải thưởng Derek Tribe-Australia (2005).

Có thể bạn quan tâm

Xã vùng cao Avương. (Ảnh: THANH TÂM)

Đà Nẵng: Đột phá chuyển đổi số ở xã vùng cao Avương

Nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số đã được Ban Thường vụ Đảng ủy và Ban Chỉ đạo 57 xã Avương (thành phố Đà Nẵng) triển khai đồng bộ, mang lại những chuyển biến rõ nét, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ nhân dân.

VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên điện thoại và máy tính, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu. (Ảnh: VNPT)

Gỡ “điểm nghẽn chờ ký” với VNPT SmartCA

Chữ ký số đã quen thuộc với doanh nghiệp, nhưng khi công việc không còn bó hẹp trong văn phòng, USB Token hay máy tính cố định lại trở thành giới hạn. Ký số từ xa đang thay đổi cách doanh nghiệp xử lý giao dịch điện tử, với VNPT SmartCA đưa thao tác ký lên môi trường số, giúp người có thẩm quyền xử lý công việc ở bất cứ đâu.

Gian hàng giới thiệu về chip bán dẫn tại một sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức. (Ảnh: Thu Hằng)

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong thiết kế chip bán dẫn

Công nghiệp bán dẫn Việt Nam đang mở rộng từ nghiên cứu, thiết kế sang đóng gói, kiểm thử và từng bước hình thành năng lực chế tạo chip trong nước. Do đó, bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo, tạo nền tảng cho thương mại hóa và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đoàn công tác hai bên làm việc, trao đổi về thúc đẩy chuyển đổi số. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Thúc đẩy hợp tác về chuyển đổi số Việt Nam và Pháp

Trong các ngày từ 5 đến 9/10, Cục Chuyển đổi số (Văn phòng Chính phủ) thực hiện chương trình làm việc với đoàn chuyên gia Cộng hòa Pháp về nội dung hợp tác, trao đổi trọng tâm về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khu vực công, quản trị dữ liệu công, phát triển kinh tế dữ liệu và hoàn thiện khung pháp lý số.

Quang cảnh hội thảo. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực cho Đắk Lắk bứt phá vươn lên trong giai đoạn mới

Hội thảo nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị gắn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của tỉnh giai đoạn 2026-2030.

Nền tảng kết nối đổi mới sáng tạo ISC kết nối mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, startup, quỹ đầu tư và các đối tác trong nước, quốc tế. (Ảnh QUANG HUY)

Mở rộng không gian kết nối công nghệ và doanh nghiệp

Ngày 5/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 đã diễn ra Hội thảo “Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo (AI) và Tự động hóa trong kỷ nguyên số”. Chương trình do Trung tâm Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo, Cục Đổi mới Sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.

Hoạt động nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: DIỆP NGỌC)

Nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam chỉ rõ, về kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) phát biểu tại lễ trao giải. (Ảnh: MH)

Trao giải Better Choice Awards 2026 vinh danh sản phẩm, giải pháp, thương hiệu đổi mới sáng tạo

Tối 4/10, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Gala trao giải Better Choice Awards 2026 đã vinh danh 45 hạng mục thuộc 4 trục giải thưởng, từ những giải pháp trí tuệ nhân tạo do người Việt làm chủ, những doanh nghiệp kiến tạo nền tảng quốc gia, tới các sản phẩm công nghệ và mẫu xe thay đổi đời sống người tiêu dùng.

Các diễn giả chia sẻ tại phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Tạo cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

Chiều 4/10, trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026 nhằm tăng cường kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và Trường đại học trong nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.

Ông Nguyễn Võ Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đổi mới sáng tạo chia sẻ tại Diễn đàn. (Ảnh: Hà Linh)

Lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cho Việt Nam

Tại Diễn đàn Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo 2026 diễn ra chiều 4/10, một vấn đề được nhiều doanh nghiệp, nhà quản lý quan tâm là phân tích các xu hướng công nghệ mới và cơ hội cho Việt Nam. Các phân tích cho rằng, việc lựa chọn hướng đổi mới sáng tạo cần phù hợp với nguồn lực, nhu cầu và có chính sách hỗ trợ tương ứng.