Mảng bài viết ngắn trên Báo Nhân Dân đề cập tới rất nhiều nội dung khác nhau, ở đây, chúng tôi tập trung vào nhóm bài biểu dương người tốt, việc tốt; cổ vũ đồng bào, chiến sĩ; xây dựng đời sống mới xã hội chủ nghĩa trong nhân dân; đồng thời phê bình thói hư tật xấu của một bộ phận người dân, cán bộ, đảng viên.
Hồ Chí Minh từng viết về một hạt thóc, một đồng tiền công trái, một con sâu ngoài ruộng, một cô hộ sinh tận tụy, một gia đình gương mẫu, một hợp tác xã tiến bộ, một cán bộ biết làm dân vận, một sự lãng phí, một thói quan liêu. Nhìn bề ngoài, đó đều là những bài báo ngắn, nói về những “việc nhỏ”.
Đọc lại những bài như Gương mẫu dân vận, Nguyễn Văn M. (Nhân Dân, số 77, ngày 9/10/1952), Thanh niên gương mẫu (Nhân Dân, số 421, ngày 27/4/1955), Gia đình gương mẫu (Nhân Dân, số 450, ngày 27/5/1955), Một hợp tác xã gương mẫu (Nhân Dân, số 2489, ngày 11/1/1961), Người mới việc mới (Báo Nhân Dân, số 4176, ngày 10/9/1965), có thể nhận thấy Hồ Chí Minh rất nhạy bén với việc phát hiện những nhân tố mới, tích cực trong đời sống và làm cho nó trở nên có hình hài, sống động, cụ thể.
Người không treo đạo đức lên cao bằng những lời khuyên chung chung. Người đặt đạo đức vào giữa đời sống. Một cán bộ dân vận bị tra tấn dã man mà vẫn bám dân, gây dựng cơ sở. Một nữ cán bộ y tế giữa bom đạn vẫn tận tụy cứu người. Một gia đình bình thường biết đặt việc nước lên trên nỗi riêng. Một hợp tác xã từ khó khăn mà biết đoàn kết, biết tổ chức, vươn lên. Những con người ấy không được nêu lên để làm đẹp mặt báo; họ được nêu lên để làm giàu sinh khí của xã hội, để người khác nhìn vào mà hiểu rằng cái tốt không phải chuyện xa xôi, mà là nền tảng của đời sống mới.
Chữ “gương mẫu” ở đây là một sự lựa chọn có ý thức. Hồ Chí Minh viết về một cán bộ gương mẫu, một thanh niên gương mẫu, một gia đình gương mẫu, một hợp tác xã gương mẫu, nghĩa là đưa ra trước xã hội một mẫu người, một mẫu sống, một mẫu làm việc để người khác noi theo.
Điều đáng chú ý không chỉ là nội dung nêu gương, mà còn là phương pháp nêu gương. Hồ Chí Minh không biến báo chí thành bục giảng khô cứng. Người làm cho cái tốt hiện lên bằng người thật, việc thật, hoàn cảnh thật. Chính vì vậy, sự giáo dục trong những bài báo của Người không gây cảm giác áp đặt, nó thuyết phục bằng sức sống của đời sống. Bởi như Người từng khẳng định “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(2).
Người không chỉ dừng ở việc nêu gương. Với những bài như Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh (Nhân Dân, số 23, ngày 2/9/1951), Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (Nhân Dân, số 68, ngày 31/7/1952), Tăng gia sản xuất tốt, còn phải thực hành tiết kiệm tốt (Nhân Dân, số 3739, ngày 25/6/1964), Phải chăng thế này là thực hành tiết kiệm? (Nhân Dân, số 4641, ngày 22/12/1966), Hồ Chí Minh tỏ thái độ nghiêm khắc với những “căn bệnh” trong đời sống công vụ và đời sống xã hội. Người nhìn thấy rất rõ: Quan liêu không chỉ là một thói làm việc chưa tốt, nó là mầm hại cho Đảng cầm quyền. Một cán bộ xa dân, khinh dân, quen ra lệnh thay vì giải thích, tổ chức, vận động, thì không đơn giản chỉ là hỏng phương pháp công tác, sâu xa hơn, đó là vấn đề về mối quan hệ giữa Đảng với dân.
Với tham ô, lãng phí cũng vậy. Dưới mắt Người, đó là dấu hiệu của tha hóa quyền lực, của sự suy đồi đạo đức công vụ. Từ một chuyện rất gần đời sống, Người chạm vào một nguyên tắc lớn: người cán bộ không thể nói cần kiệm mà sống phung phí; không thể nói phụng sự nhân dân mà lại dễ dãi với của công, với mồ hôi nước mắt của dân.
Trong nhiều bài báo ngắn, Hồ Chí Minh làm đồng thời cả hai việc: vừa xây, vừa chống. Phong trào mua công trái (Nhân Dân, số 1, ngày 11/3/1951) là một thí dụ tiêu biểu. Bài báo biểu dương những tấm lòng cụ thể trong nhân dân: từ người giàu đến người nghèo, từ trẻ em đến người già, ai cũng góp phần vào việc nước. Đó là xây dựng lòng yêu nước, xây dựng ý thức công dân, xây dựng niềm tin vào Chính phủ kháng chiến. Nhưng ngay trong mạch cổ vũ ấy, Hồ Chí Minh cũng nhắc rất rõ: cán bộ phải biết giải thích, vận động cho khéo, và không được để việc mua công trái ảnh hưởng đến vốn liếng tăng gia sản xuất của dân.
Hai bài Phải thi đua chống hạn, diệt sâu, để nắm chắc vụ mùa thắng lợi (Nhân Dân, số 1672, ngày 11/10/1958) và Phải ra sức chống hạn (Nhân Dân, số 2088, ngày 4/12/1959) một mặt, Hồ Chí Minh cổ vũ tinh thần quyết tâm vượt khó của nông dân, hợp tác xã, bộ đội, thanh niên; mặt khác, Người chỉ thẳng bệnh chủ quan, chỗ phong trào chưa đều, chưa khắp, thậm chí cả những biểu hiện mê tín. Ở đây, chống hạn không chỉ là chống hạn; đó là chống cả lối nghĩ lạc hậu, chống sự chậm trễ của cán bộ, chống tâm lý phó mặc. Bởi vậy, khi viết “Người mà quyết chí, thì trời phải thua”, Hồ Chí Minh đã kết tinh cả một tinh thần thời đại: Chế độ mới phải sinh ra con người biết tổ chức, biết tin ở sức mình, không khoanh tay trước khó khăn.
Hồ Chí Minh từng xác định rất rõ chức năng của báo chí cách mạng là tuyên truyền, huấn luyện và tổ chức mà đối tượng của nó là “đại đa số dân chúng”(3). Nhìn từ quan niệm ấy, những bài viết ngắn của Người trên Báo Nhân Dân không thể chỉ đọc như những tiểu phẩm rời rạc. Chúng là những đơn vị tư tưởng cô đọng, nơi một lãnh tụ đồng thời là một nhà báo lớn dùng ngòi bút báo chí để tham gia trực tiếp vào đời sống cách mạng mỗi ngày.
Một Đảng cầm quyền có thể được thử thách trong những quyết sách lớn. Nhưng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra bằng chính những bài báo rất ngắn của mình, Đảng ấy cũng bị thử thách hằng ngày ở cách dùng một đồng tiền công, giữ một hạt thóc, sửa một lối làm việc, nêu một gương tốt, chống một biểu hiện quan liêu, tổ chức một phong trào chống hạn, khơi dậy một ý thức tiết kiệm, bồi đắp một tinh thần phụng sự. Chính vì vậy, những bài báo nhỏ ấy chưa bao giờ là nhỏ ■
----------------
(1) Theo lời kể của ông Lê Hữu Lập (cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1958 đến 1969) thì Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến tờ báo Đảng – Báo Nhân Dân. Người thường xuyên viết bài cho báo, có những bài ngắn nhưng cũng có bài dài như bài Vừa đi đường vừa kể chuyện đăng nhiều kỳ. Tất cả các bài báo của Người đều dễ hiểu, súc tích và mang tính giáo dục cao. Kể từ bài đầu tiên Phong trào mua công trái đăng trên số 1, ngày 11/3/1951, đến bài cuối cùng Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng đăng trên số ra ngày 1/6/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết 1.205 bài cho Báo Nhân Dân. Xem: Lê Hữu Lập (2003), Những tháng ngày bên Bác, Nxb Thông tấn, Hà Nội.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.284.
(3) Hồ Chí Minh, sđd, t.5, tr.345–346.
Đọc lại những bài viết ngắn của Bác Hồ trên Báo Nhân Dân, điều đọng lại không chỉ là sự khâm phục trước một bút pháp gọn, sáng, giàu sức nặng. Điều đọng lại sâu hơn là bài học về cách nhìn đời sống và cách làm báo. Thông qua những bài báo ngắn ấy, Người tiếp cận trực tiếp với đời sống hằng ngày để xây dựng con người, xây dựng lối sống, xây dựng tinh thần xã hội, giữ đạo đức của một Đảng cầm quyền.